uct
Báo cáo Tình hình KTXH năm 2010 và nhiệm vụ kế hoạch năm 2011
Báo cáo Tình hình KTXH năm 2010 và nhiệm vụ kế hoạch năm 2011
Thứ 4, ngày 01/12/2010 | 01:14 AM (GMT +7)

Phần thứ nhất

 

TÌNH HÌNH KINH TẾ XÃ HỘI NĂM 2010

 Thực hiện Nghị quyết của HĐND tỉnh về nhiệm vụ năm 2010, Nghị quyết về nhiệm vụ, giải pháp thực hiện 6 tháng cuối năm và Nghị Quyết 18/NQ-CP ngày 06/4/2010 của Chính phủ, UBND tỉnh xác định phải tập trung huy động các nguồn lực của toàn xã hội, đảm bảo thực hiện thắng lợi các chỉ tiêu đã đề ra, đạt tốc độ tăng trưởng GDP của tỉnh 12,5 % trong năm 2010. 

 

I. NHỮNG KẾT QUẢ CHỦ YẾU

 

1. Về thực hiện mục tiêu tăng trưởng kinh tế

Tổng sản phẩn trên địa bàn (GDP, giá so sánh) thực hiện gần 9.100 tỷ đồng, vượt kế hoạch, tăng trên 12,7% so với năm 2009, vượt 0,2% so với chỉ tiêu đề ra (12,5%). Cơ cấu kinh tế các ngành công nghiệp xây dựng chiếm 40,1%, dịch vụ chiếm 38,5%, nông lâm ngư nghiệp chiếm 21,4% trong GDP. 

1.1 Giá trị Sản xuất công nghiệp và tiểu thủ công nghiệp (giá so sánh) thực hiện 10.125 tỷ đồng, đạt trên 100% kế hoạch, tăng trên 26,5% so với năm 2009.  

Một số nhà máy mới đi vào hoạt động như nhà máy Cồn nhiên liệu, nhà máy kính nổi Chu Lai, Công ty may Con Đường Xanh, Valley view…đã góp phần nâng cao tốc độ tăng trưởng.

Một số các sản phẩm tăng như: Vàng khai thác; gạch men cao cấp; điện thương phẩm; quần áo may sẵn; thủy sản chế biến.

Các địa phương có giá trị sản xuất công nghiệp ngoài quốc doanh tăng cao và ổn định, đóng góp vào mức tăng chung của tỉnh như: Núi Thành tăng trên 51%; Đại Lộc tăng trên 49%; Điện Bàn tăng gần 26%; Tam Kỳ tăng trên 24%.

1.2. Giá trị sản xuất các ngành dịch vụ hơn 7.900 tỷ đồng, bằng 100% kế hoạch, tăng trên 15,6% so với năm 2009

Tổng mức bán lẻ hàng hoá và dịch vụ trên 14.225 tỷ đồng, tăng trên 27,5% so với năm 2009.

Tổng kết đánh giá công tác xúc tiến quảng bá du lịch giai đoạn 5 năm từ 2005 - 2009 và đề ra phương hướng, giải pháp xúc tiến du lịch giai đoạn 2010-2014; phối hợp tổ chức thành công Hội thảo “Miền Trung Việt Nam - Điểm đến với du khách Nhật Bản: Tiềm năng và giải pháp” và “Miền Trung - Xây dựng điểm đến quốc tế”.  

 Hệ thống cơ sở vật chất ngành du lịch trên địa bàn được đầu tư và cải thiện đáng kể. Toàn tỉnh hiện có 105 cơ sở lưu trú du lịch đang hoạt động với hơn 4.000 phòng, trong đó cơ sở lưu trú được xếp hạng từ 1 đến 5 sao lên 88 cơ sở với 3463 phòng. Khách tham quan và lưu trú trên địa bàn tỉnh tăng 14,6% so với năm 2009, tổng lượt khách ước đạt 2,4 triệu lượt, trong đó khách quốc tế hơn 01 triệu lượt.

1.3. Giá trị sản xuất nông lâm ngư nghiệp 2.770 tỷ đồng, bằng 99% kế hoạch đề ra, tăng 3,5% so với năm 2009.

Tổng diện tích gieo trồng cây hàng năm trên 157 nghìn ha, xấp xỉ so với năm 2009. Trong đó diện tích lúa trên 85.300 ha, bằng trên 98,5% so với năm trước. Sản lượng lương thực có hạt gần 4.70 ngàn tấn, tăng hơn 5% so với năm 2009. Trong đó sản lượng lúa cả năm trên 412.000 tấn, tăng hơn 4,6%.

Chăn nuôi gặp nhiều khó khăn do dịch cúm gia cầm tái phát đã làm chết hơn 16.000 con gia cầm. Dịch bệnh tai xanh đã làm hơn 40.000 con lợn mắc bệnh, trong đó chết và buộc phải tiêu hủy trên 21.000 con.

Tổng sản lượng khai thác thủy sản trên 57.600 tấn, tăng 5%. Trong đó khai thác biển hơn 55.500 tấn, chiếm 96,5% sản lượng khai thác. Diện tích nuôi trồng thủy sản 6.700 ha, sản lượng đạt trên 13.300 tấn, giảm gần 8% về diện tích và 20% về sản lượng so với năm 2009.

Sản lượng gỗ khai thác dự tính năm 2010 gần 190.000 m3, tăng 11% so với năm 2009. Diện tích trồng rừng tập trung khoảng 10.500 ha, tăng hơn 4%. Trong năm đã xãy ra 11 vụ cháy rừng, với hơn 91 ha rừng bị cháy, chủ yếu là rừng trồng.

1.4. Cơ bản hoàn thành sắp xếp, cổ phần hóa các doanh nghiệp nhà nước. Tốc độ phát triển doanh nghiệp ngoài quốc doanh tăng gần 20% so với năm trước.

Đã đăng ký và cấp  trên 600 giấy chứng nhận đăng ký kinh doanh với tổng mức đăng ký hơn 4.500 tỷ đồng. Bên cạnh đó Khu kinh tế mở Chu Lai đã có 09 dự án đầu tư được cấp phép với tổng vốn trên 644 triệu USD, trong đó có một số dự án lớn như Khu cảng và hậu cần cảng Tam Hiệp, nhà máy ô tô khách Trường Hải, nhà máy sản xuất tấm thu năng lượng mặt trời, nhà máy sản xuất Sô Đa... Đến nay, trên địa bàn tỉnh đã có 5.300 doanh nghiệp với tổng vốn đăng ký gần 21.000 tỷ đồng.

Cấp 07 giấy phép đầu tư trực tiếp nước ngoài với tổng vốn đầu tư trên 178 triệu USD. Như vậy, đến cuối năm 2010, tổng số dự án đầu tư trực tiếp nước ngoài trên địa ban tỉnh 79 dự án còn hiệu lực với tổng mức đầu tư hơn 01 tỷ USD. Trong đó có 14 dự án dự án nằm trong các khu công nghiệp với tổng vốn đầu tư đăng ký 290 triệu USD, 18 dự án nằm trong khu kinh tế mở Chu Lai với với vốn đầu tư đăng ký hơn 200 triệu USD và ngoài hai khu trên do UBND tỉnh quản lý là 47 dự án với tổng vốn đăng ký gần 600 triệu USD. Trong năm, UBND tỉnh thực hiện thủ tục thu hồi dự án tập đoàn bãi biển Rồng. Lý do thu hồi là do các chủ đầu tư không đủ khả năng tài chính để thực hiện dự án nên triển khai cầm chừng, vi phạm tiến độ thực hiện dự án.

 

2. Về thực hiện mục tiêu ổn định kinh tế và chống lạm phát

2.1. Thu ngân sách vượt dự toán năm

Tổng thu ngân sách địa bàn thực hiện trên 3.840 tỷ đồng, vượt 58% so với dự toán năm 2010 theo Nghị quyết HĐND tỉnh đề ra. Trong đó, thu nội địa trên 2.270 tỷ đồng, tăng 33% dự toán năm; thu xuất nhập khẩu trên 1.300 tỷ đồng, gấp gần 3 lần so với dự toán năm. Thu để lại chi qua ngân sách 270 tỷ đồng, bằng 100% dự toán năm. 

Tổng chi ngân sách địa phương trên 8.000 tỷ đồng, tăng 56% dự toán năm. Trong đó chi đầu tư phát triển hơn 3.200 tỷ đồng, chi thường xuyên hơn 4.500 tỷ đồng. Chi tăng cao so với dự toán năm là do chuyển nguồn từ năm 2009 sang năm 2010 hơn 1.900 tỷ đồng.

2.2. Nguồn vốn đầu tư phát triển tăng khá

Tổng vốn đầu tư phát triển trên địa bàn hơn 11.477 tỷ đồng, chiếm trên 47% tổng sản phẩm trong tỉnh, tăng 25,6% so với năm 2009. Khối lượng thực hiện nguồn vốn ngân sách nhà nước gần 8.000 tỷ đồng, tăng 13,5%, trong đó tỉnh quản lý thực hiện trên 3.700 tỷ đồng, tăng gần 11%. Nguồn vốn ngoài nhà nước thực hiện 2.250 tỷ đồng, tăng 82%. Nguồn vốn đầu tư trực tiếp nước ngoài thực hiện 1.270 tỷ đồng, tăng trên 41%.

Kế hoạch vốn đầu tư phát triển từ ngân sách nhà nước năm 2010 gần 2.500 tỷ đồng. Trong đó, kế hoạch vốn đầu năm 1.438 tỷ đồng; nguồn vốn trái phiếu Chính phủ hơn 1.000 tỷ đồng; nguồn vốn vay hỗ trợ phát triển giao thông nông thôn 61,5 tỷ đồng. Ngoài ra, nguồn vốn ODA năm 2010 dự kiến giải ngân khoảng 300 tỷ đồng.

Tình hình giải ngân nguồn vốn ngân sách nhà nước năm 2010 cơ bản đảm bảo theo kế hoạch bố trí vốn. UBND tỉnh tập trung chỉ đạo đẩy nhanh tiến độ thi công các công trình và điều chuyển các nguồn vốn, nhằm giải ngân hết các nguồn vốn trong năm.

Đã khởi công xây dựng một số dự án qui mô lớn, trong đó có 03 tuyến đường cứu hộ cứu nạn ven biển đi qua huyện Thăng Bình, thành phố Tam Kỳ và huyện Núi Thành có tổng chiều dài 33 km, với tổng mức đầu tư 2.540 tỷ đồng; nạo vét sông Trường giang, cầu cảng Tam Hiệp, nhà máy xi măng Thạnh Mỹ. Khánh thành đưa vào sử dụng hồ chứa nước Đông Tiễn, nhà máy nước Khâm Đức. Thúc đẩy tiến độ thi công cầu Cửa Đại, đường Nam Quảng Nam, nạo vét luồng cảng Kỳ Hà, các công trình bệnh viện, trường học, ký túc xá cho sinh viên.

Một số dự án trong Khu Kinh tế mở Chu Lai đã đi vào hoạt động như: Nhà máy kính nổi, Nhà máy khung gầm thùng xe và Khu du lịch sinh thái Miền Trung,... Như vậy đến nay trên địa bàn KKTM Chu Lai có 61 dự án đầu tư còn hiệu lực với tổng vốn đăng ký khoảng 1,6 tỷ USD, trong đó có 35 dự án đang hoạt động; vốn thực hiện đầu tư gần 500 triệu USD.  

Đối với các dự án thủy điện, qua rà soát, kết quả đã thống nhất 33/48 dự án thuỷ điện; loại khỏi Quy hoạch 05 dự án và tạm dừng thực hiện đầu tư 10 dự án để tiếp tục xem xét, rà soát quy hoạch.

Tiếp tục xúc tiến 10 dự án ODA với tổng vốn viện trợ gần 180 triệu USD, tập trung vào các lĩnh vực như phát triển hạ tầng đô thị, xử lý nước thải, phòng chống giảm nhẹ thiên tai, phát triển y tế, phát triển nông thôn tổng hợp và  xóa đói giảm nghèo. Qua các năm, trên địa bàn tỉnh đang triển khai 16 dự án ODA khác với tổng nguồn vốn gần 2.000 tỷ đồng, đã giải ngân trên 1.200 tỷ đồng. Bên cạnh đó UBND tỉnh quyết định phê duyệt cho phép tiếp nhận các khoản viện trợ dự án và phi dự án do các tổ chức phi chính phủ nước ngoài tài trợ với  giá trị cam kết viện trợ trong năm 2010 hơn 141 tỷ đồng, tăng 32 tỷ đồng so với năm 2009, trong đó giải ngân trên 120 tỷ đồng, tăng hơn 21%.

Thẩm tra 345 dự án thuộc khối tỉnh quản lý, với tổng giá trị quyết toán 959 tỷ đồng, giảm 27 tỷ đồng, tương đương với 2,6% so với chủ đầu tư đề nghị.

2.3. Xuất khẩu chưa đạt kế hoạch đề ra, nhập khẩu đáp ứng yêu cầu sản xuất trong tỉnh

Giá trị xuất khẩu thực hiện 260 triệu USD, tăng trên 10,4% so với năm 2009 và bằng 90% kế hoạch năm. Trong đó xuất khẩu khu vực có vốn đầu tư nước ngoài trên 100 triệu USD, tăng 35%.

Nhập khẩu tiếp tục xu hướng tăng do nhu cầu nguyên liệu của các ngành sản xuất, tổng kim ngạch nhập khẩu hơn 500 triệu USD, tăng trên 25% so với cùng kỳ năm trước. Mặt hàng nhập khẩu chủ yếu là linh kiện ô tô, phụ liệu giày dép, máy tính.

2.4. Chỉ số giá tiêu dùng ở mức bình quân chung của cả nước

Do thị trường thế giới và trong nước tăng, nên giá vàng tăng cao. Giá cả một số nhóm tăng vào những tháng cuối năm như giá lương thực, vật liệu xây dựng, gas. Nhóm giáo dục cũng tăng cao so với năm trước do mức tăng học phí.

2.5. Mở rộng tín dụng và hỗ trợ lãi suất đảm bảo theo các qui định chung

 

Tổng nguồn vốn huy động tại chỗ của các ngân hàng trên địa bàn 8.650 tỷ đồng, tăng trên 23% so với cùng kỳ. Trong đó huy động tại địa phương hơn 8.400 tỷ đồng, chiếm trên 99%. Về cơ cấu huy động tiền gửi tiết kiệm trong dân cư gần 7.000 tỷ đồng, chiếm trên 78%, tăng 31% so với đầu năm; huy động từ các tổ chức kinh tế hơn 1.800 tỷ, chiếm gần 22%, giảm 0,6% so với đầu năm.

Tổng dư nợ cho vay gần 15.000 tỷ đồng, tăng trên 25% so với cùng kỳ. Trong đó, dư nợ cho vay bằng Việt Nam đồng chiếm 67%; dư nợ cho vay bằng ngoại tệ chiếm 33%.

Thực hiện chính sách tín dụng phục vụ phát triển nông nghiệp, nông thôn, dư nợ cho vay chiếm trên 15% tổng dư nợ. Trong đó, dư nợ cho vay tại ngân hàng chính sách xã hội chiếm trên 86%, ngân hàng thương mại nhà nước chiếm trên 44%.

Kiểm soát cho vay nhập khẩu. Chỉ tập trung cho vay nhập khẩu các nhóm hàng thiết yếu, nguyên liệu phục vụ sản xuất hàng xuất khẩu, thay thế nhập khẩu. Không cho vay lĩnh vực chứng khoán, hạn chế cho vay các lĩnh vực bất động sản, kinh doanh hàng tiêu dùng xa xỉ.

Mặt bằng lãi suất cho vay ngắn hạn 12-15%; cho vay trung, dài hạn 13,5-17%. Trong đó cho vay sản xuất nông nghiệp, nông thôn và xuất khẩu từ 12-12,5%.

 

3. Về an sinh xã hội và các lĩnh vực xã hội khác

3.1. Đảm bảo an sinh xã hội và giảm nghèo, đến cuối năm 2010, tỷ lệ hộ nghèo trên toàn tỉnh giảm xuống còn 17%

Thực hiện Nghị quyết 30a của Chính phủ, Ban chỉ đạo của tỉnh đã tổ chức họp giao ban định kỳ theo tháng, quý nhằm đề ra các biện pháp và giải pháp kịp thời tháo gỡ các vướng mắc và đẩy nhanh tiến độ thực hiện. Trong năm 2010, đã đầu tư 60 tỷ xây dựng 71 công trình các loại tại 03 huyện nghèo, ước thực hiện cả năm giải ngân đạt 100% và hoàn thành đưa vào sử dụng các công trình. Bên cạnh đó, đã hỗ trợ 13,8 tỷ đồng thực hiện các chính sách phát triển sản xuất, tăng thu nhập; hỗ trợ xây dựng 4.293 nhà ở cho hộ nghèo theo Quyết định số 167/2008/QĐ-TTg của Thủ tướng Chính phủ; xây dựng 1.249 nhà cho hộ nghèo tại 03 huyện nghèo theo Nghị quyết số 30a/2008/NQ-CP (96 nhà ở huyện Tây Giang chưa xây dựng do chưa hoàn thành quy hoạch bố trí đất cho người dân).

Chương trình 257 được tiếp tục triển khai và đạt được những kết quả tích cực: kế hoạch 2010, đã hỗ trợ đầu tư xây dựng mới 24 công trình, thanh toán khối lượng 21 công trình và 9 công trình chuyển tiếp, với tổng kinh phí trên 36 tỷ đồng, trong đó kế hoạch vốn chương trình 257 năm 2010 là 21 tỷ đồng.

Trong điều kiện diễn biến thời tiết phức tạp, UBND tỉnh đã phân bổ 6.500 tấn gạo từ nguồn hỗ trợ của Chính phủ cho các huyện, thành phố và một số đơn vị đóng trên địa bàn tỉnh để chủ động cứu đói và dự phòng thực hiện phương án phòng, chống lụt bão.

Việc thực hiện chính sách và giải quyết các chế độ ưu đãi người có công, các đối tượng chính sách được quan tâm và tiếp tục đẩy mạnh: Chuyển tiền quà tết và kỷ niệm ngày Thương binh liệt sỹ đến 46.000 đối tượng và hơn 108.000 gia đình chính sách, người có công cách mạng với tổng số tiền gần 52 tỷ đồng; trợ cấp thường xuyên theo Nghị định số 67/2007/NĐ-CP và Nghị định số 13/2010/NĐ-CP cho 65.000 trường hợp với tổng kinh phí gần 180 tỷ đồng; thực hiện mua và cấp gần 283 ngàn thẻ BHYT cho người nghèo, hộ cận nghèo và người dân tại các xã đặc biệt khó khăn thuộc Chương trình 135 giai đoạn 2 với tổng kinh phí trên 100 tỷ đồng.

 Công tác bảo vệ, chăm sóc trẻ em được tăng cường triển khai thực hiện đã tổ chức 22 lớp tập huấn chuyên môn nghiệp vụ cho hơn 1.000 cán bộ; 16 diễn đàn Quyền trẻ em cho 4.500 trẻ em tại huyện, thành phố; tuyên dương người yêu trẻ và trẻ em vượt khó, học khá giỏi tiêu biểu năm 2010. So với năm 2009 đã giảm 20% trẻ em có nguy cơ lang thang; 10% trẻ em vi phạm pháp luật, trẻ em bị tai nạn thương tích; 259 trẻ em lang thang và có nguy cơ lang thang được học nghề, hỗ trợ vốn để giải quyết khó khăn về đời sống; huy động Quỹ Bảo trợ trẻ em tỉnh đạt 2,4 tỷ đồng.

3.2. Về Giáo dục và đào tạo

 Toàn tỉnh hiện có 755 trường, 11.220 lớp và hơn 337.000 học sinh, tăng 3 trường, 151 lớp và hơn 5.000 học sinh so với năm học trước. Có 269 trường được Bộ Giáo dục và Đào tạo kiểm tra công nhận đạt chuẩn quốc gia, tăng 67 trường so với năm học trước. 100% xã, phường, thị trấn đạt chuẩn phổ cập Tiểu học và chống mù chữ, trong đó có 99,5% phổ cập đúng độ tuổi. Hoàn thành phổ cập trung học cơ sở. Có 09 huyện, thành phố khu vực đồng bằng xây dựng và triển khai đề án phổ cập bậc trung học phổ thông.

3.3. Về lao động việc làm

Thông qua hình thức tổ chức điểm giao dịch việc làm và doanh nghiệp trực tiếp tuyển dụng tại các địa phương, trong năm qua đã tổ chức 15 điểm giao dịch việc làm, trong đó có 05 phiên giao dịch việc làm tại Trung tâm Giới thiệu việc làm tỉnh; 10 điểm giao dịch việc làm lưu động với tổng số 263 doanh nghiệp tham gia tuyển dụng với nhu cầu tuyển dụng hơn 36.000 lao động; Từ hình thức tuyển dụng tại các điểm giao dịch việc làm và trực tiếp tại các địa phương, đã có gần 600 lao động đi làm việc theo hợp đồng tại Hàn Quốc, Nhật Bản, Đài Loan, Malaisya, tăng trên 24% so với năm 2009; trong đó, có 486 lao động tại 03 huyện nghèo theo Nghị quyết số 30a/2008/NQ-CP (Phước Sơn, Tây Giang, Nam Trà My) đi xuất khẩu tại Malaisya, nâng tổng số lao động của 03 huyện nghèo đi xuất khẩu lao động từ trước đến nay lên 524 người; ngoài ra, có 154 lao động của 03 huyện nghèo đủ điều kiện đang chờ xuất cảnh. Tính đến cuối năm 2010 đã giải quyết việc làm cho 37.000 lao động, đạt 100% kế hoạch năm. Thực hiện xét duyệt 940 dự án vay vốn Quỹ Quốc gia giải quyết việc làm và Quỹ giải quyết việc làm tỉnh với số tiền hơn 21 tỷ đồng tạo việc làm cho 1.620 lao động.

Công tác tuyển sinh và tổ chức đào tạo nghề cho lao động trên địa bàn được triển khai thực hiện đồng bộ. Tuyển sinh đào tạo nghề năm 2010 trên 36.000 người, đạt trên 100% kế hoạch năm, tăng 3.152 người so với năm 2009. Tổng số lao động tốt nghiệp các khoá đào tạo nghề gần 34.350 người, tăng hơn 3.500 người so với năm 2009. Thực hiện có hiệu quả kế hoạch đào tạo nghề cho lao động đặc thù, kết quả gần 5.590 lao động đặc thù được hỗ trợ học nghề từ ngân sách nhà nước, đạt 100% kế hoạch. Tỷ lệ lao động qua đào tạo nghề đạt 30%.

3.4. Về chăm sóc sức khỏe nhân dân

 Ngành y tế phối hợp chặt chẽ với các địa phương, tăng cường các biện pháp phòng chống dịch bệnh và vệ sinh an toàn thực phẩm.

Tình hình dịch sốt xuất huyết diễn biến phức tạp tại một số tỉnh, thành trong cả nước. Trên địa bàn tỉnh, nhiều trường hợp mắc bệnh sốt xuất huyết đã xãy ra ở 11/18 huyện thành phố, tất cả các trường hợp mắc bệnh được điều trị kịp thời tại các cơ sở y tế, nên không có trường hợp tử vong. Theo nhận định dịch tễ, năm 2010 là năm chu kỳ của dịch sốt. Trung tâm y tế dự phòng tỉnh, huyện triển khai các biện pháp phòng chống dịch và vận động nhân dân thực hiện tốt công tác loại bỏ các ổ bọ gậy ngay tại các hộ gia đình.

Các ngành chức năng đã tổ chức kiểm tra hơn 3.000 cơ sở sản xuất, chế biến thực phẩm và hơn 5.000 cơ sở kinh doanh dịch vụ ăn uống. Qua kiểm tra có trên 80% cơ sở đạt tiêu chuẩn theo qui định.

3.5. Về văn hóa, thông tin và truyền thông, thể dục thể thao

Trong năm 2010 các hoạt động văn hóa thông tin, tuyên truyền, cổ động được tổ chức và diễn ra sôi động tại hầu hết các địa phương với nhiều hình thức phong phú, phục vụ tốt cho kỷ niệm các ngày lễ lớn và các sự kiện chính trị. Chào mừng 80 năm Ngày thành lập Đảng Cộng sản Việt Nam và Đảng bộ tỉnh Quảng Nam; 50 năm Ngày kết nghĩa giữa hai tỉnh Thanh Hóa - Quảng Nam; 35 năm Ngày giải phóng Quảng Nam và khai mạc Đại hội TDTT tỉnh lần thứ VI; 45 năm Chiến thắng Núi Thành; 120 năm Ngày sinh nhật Bác; 65 năm Cách mạng Tháng Tám và Quốc khánh 02/9, chương trình kỷ niệm 1.000 năm Thăng Long - Hà nội... Đồng thời, các đơn vị chức năng phối hợp chặt chẽ với các địa phương tổ chức các hoạt động tuyên truyền chào mừng Đại hội Đảng bộ các huyện, thành phố, các Đảng bộ trực thuộc và Đại hội Đảng bộ tỉnh Quảng Nam lần thứ XX, góp phần tạo không khí sôi nổi rộng khắp.

Công tác bảo tồn, phát huy các giá trị di sản văn hóa được quan tâm thực hiện, 04 hồ sơ đề nghị Bộ Văn hóa, Thể thao và du lịch xếp hạng di tích cấp quốc gia; triển khai lập hồ sơ xếp hạng di tích cấp tỉnh cho 13 cơ sở cách mạng trước năm 1945. Hoàn thành công tác trùng tu một số công trình dự án Khương Mỹ; giai đoạn 1 Lai Viễn Kiều.

Phong trào thể dục thể thao diễn ra sôi động, cơ sở vật chất được tăng cường, tổ chức thành công một số bộ môn của Đại hội TDTT toàn quốc tại Quảng Nam. Thể thao thành tích cao với kết quả  04 huy chương Vàng, 02 huy chương Bạc và 01 huy chương Đồng. Tham gia thi đấu thành công giải Taekwonndo mở rộng tổ chức tại Lào và dành được 01 huy chương vàng.

Theo kết quả điều tra đến cuối năm 2010 trên toàn tỉnh đã có khoản 32% số người dùng điện thoại di động. Hộ có điện thoại cố định chiếm 27%. Số hộ có máy vi tính khoản 0,89%. Hộ có máy thu hình chiếm 84%. Hộ gia đình có điện thắp sáng là 96%. Ước tính toàn tỉnh có hơn 1,2 triệu thuê bao điện thoại, trong đó số thuê bao cố định gần 200 ngàn thuê bao, số thuê bao di động hơn 01 triệu thuê bao, nâng mật độ điện thoại toàn tỉnh lên 80 máy/100 dân, tăng 11,7 máy/100 dân so với năm 2009 (trong đó: mật độ điện thoại cố định là 13 máy/100 dân và mật độ điện thoại di động là 67 máy/100 dân). Số thuê bao Internet hiện có gần 31 ngàn thuê bao, tỷ lệ người dân sử dụng Interntet là 8,2 thuê bao/100 dân.

3.6. Công tác nội chính, quốc phòng - an ninh được đảm bảo, đối ngoại được tăng cường. Tai nạn giao thông  vẫn còn ở mức cao

Đã tổ chức thành công Hội nghị thường niên với đoàn đại biểu cấp cao tỉnh Sêkông của nước bạn Lào. Tổ chức khánh thành cột mốc đại 717 tại Cửa khẩu Nam Giang-Đắc Tà oọc. Xây dựng kế hoạch và tiếp tục triển khai thực hiện công tác cắm mốc năm 2010. Phối hợp tổ chức cuộc họp Quan chức cấp cao ASEAN, ASEAN + 3, Cấp cao Đông Á.

Xây dựng kế hoạch khu vực phòng thủ vững chắc giai đoạn 2010-2015 cấp tỉnh; kế hoạch xây dựng khu vực phòng thủ của các sở, ngành; công trình phòng thủ Sh02. Hoàn thành các kế hoạch phòng chống cháy nổ, tìm kiếm cứu nạn, cứu sập, phòng chống cháy rừng. Tổ chức thành lập và huấn luyện các phân đội cứu hộ, cứu nạn, cứu sập ở các cấp. Tuyển quân đạt 100% chỉ tiêu.

Công tác tiếp công dân tại các đơn vị, địa phương được duy trì thường xuyên, các cơ quan quản lý Nhà nước trên địa bàn đã tổ chức tiếp hơn 7.600 lượt người giảm 15% so với năm 2009; Qua tiếp dân đã tiếp nhận 2.339 đơn khiếu nại giảm 15,3% so với cùng kỳ, 191 đơn tố cáo tăng 13%. Qua giải quyết đơn thư khiếu kiện trên địa bàn đã kiến nghị thu hồi cho Nhà nước 346 triệu đồng, 2.008m2 đất, thu hồi cho cá nhân, tập thể bị thiệt hại 996 triệu đồng và 7.581m2 đất các loại, minh oan 27 người, kiến nghị xem xét xử lý hành chính 03 người, chuyển cơ quan điều tra xử lý hình sự 02vụ/02người.

Trong năm 2010, công tác thanh tra hành chính và chuyên ngành tập trung vào các lĩnh vực trọng tâm: quản lý đầu tư XDCB, quản lý ngân sách, quản lý đất đai, chuyên đề về bảo hiểm xã hội, xử phạt vi phạm hành chính trên các lĩnh vực. Đã triển khai 187 cuộc thanh tra, kết thúc thanh tra 164 cuộc. Qua thanh tra đã phát hiện sai phạm trong quản lý kinh tế với tổng số tiền hơn 21,4 tỷ đồng và 862.189m2 đất tại 825 đơn vị, cá nhân sai phạm; kiến nghị thu hồi nộp ngân sách Nhà nước 5,3 tỷ đồng, hơn 823.000m2 đất; kiến nghị thu hồi khác hơn 16,2 tỷ đồng và hơn 38.500m2 đất; đã thu nộp ngân sách Nhà nước hơn 2,7 tỷ đồng và 822.255m2 đất; kiến nghị xử lý hành chính 73 tập thể và 505 cá nhân. Năm 2010 Thanh tra tỉnh đã thực hiện đốc thúc nợ đọng tiền sai phạm các năm trước chuyển qua được hơn 887 triệu đồng.

            Tai nạn giao thông đường bộ còn tăng ở mức cao, tính đến ngày 31/10/2010, toàn tỉnh đã xảy ra 347 vụ, làm chết 258 người và bị thương 317 người. So với cùng kỳ năm 2009, TNGT tăng 82 vụ, tăng 46 người chết và tăng 89 người bị thương, tài sản thiệt hại ước tính thành tiền khoảng 1,373 tỷ đồng. Ngoài ra toàn tỉnh xảy ra 105 vụ TNGT ít nghiêm trọng nhưng cũng làm thiệt hại ước tính thành tiền khoảng 594 triệu đồng.

 Các ngành chức năng tích cực tuyên truyền nâng cao nhận thức đồng thời tăng cường triển khai thực hiện Nghị định 34 của Chính phủ về tuần tra, xử phạt nghiêm đối với các trường hợp vi phạm.

 

Đánh giá chung

Nhìn chung, tình hình kinh tế - xã hội của tỉnh năm 2010 phát triển theo chiều hướng tích cực. Thực hiện có kết quả mục tiêu ổn định tăng trưởng kinh tế, góp phần chống lạm phát theo tinh thần Nghị Quyết 18 của Chính phủ. Giá trị sản xuất công nghiệp, tổng vốn đầu tư toàn xã hội tăng khá; thu nội địa và thu thuế xuất nhập khẩu vượt cao so với dự toán năm. Tiến độ giải ngân vốn đầu tư tốt hơn so với năm trước. Mặc dù chịu ảnh hưởng của hạn hán, dịch bệnh nhưng nhờ sự phối hợp của các cấp, ngành, địa phương nên sản xuất nông lâm ngư nghiệp phát triển ổn định, dịch bệnh được kiểm soát. An sinh xã hội được đảm bảo, các lĩnh vực về văn hóa xã hội được giữ vững, an ninh chính trị và trật tự an toàn được đảm bảo; công tác đối ngoại được tăng cường.

Tuy nhiên, nền kinh tế vẫn còn nhiều khó khăn, thách thức như: Giá cả một số mặt hàng có xu hướng tăng, đặc biệt là vào những tháng cuối năm; các doanh nghiệp sản xuất, kinh doanh gặp một số khó khăn trong huy động vốn do lãi xuất cho vay còn ở mức cao; dịch bệnh vẫn có nguy cơ xãy ra và diễn biến phức tạp.

 

 II. NHỮNG VẤN ĐỀ TỒN TẠI

Hạ tầng kinh tế - xã hội tuy đã được tập trung đầu tư nhưng chưa đáp ứng được yêu cầu, nhất là ở các tuyến đường khu vực miền núi, ven biển, các khu, cụm công nghiệp; cơ sở y tế, giáo dục và đào tạo có nơi quá tải, xuống cấp nghiêm trọng, chất lượng dịch vụ chưa đảm bảo yêu cầu.

Chỉ số cạnh tranh cấp tỉnh tuy ở mức tốt nhưng giảm dần qua các năm. Vẫn còn nhiều điểm yếu do thiếu sự đồng bộ giữa các cấp, các ngành và thủ tục hành chính chưa thật sự thuận lợi đối với nhà đầu tư.

Chưa ngăn chặn có hiệu quả dịch bệnh trong chăn nuôi. Tỷ trọng giá trị sản xuất ngành chăn nuôi chiếm thấp (khoảng 27%) trong sản xuất nông nghiệp.  Giá trị về thủy sản giảm 0,5% so với năm 2009.

Tình trạng thiếu điện, hạn hán đã ảnh hưởng đến sản xuất của các doanh nghiệp và sinh hoạt của nhân dân.

Công tác bồi thường thiệt hại, giải phóng mặt bằng, tái định cư còn nhiều vướng mắc, chưa đáp ứng được yêu cầu để triển khai một số dự án quan trọng. Công tác quản lý hiện trạng gặp nhiều khó khăn do việc xây dựng trái phép, cơi nới, trồng cây với mật độ dày vẫn tiếp tục xảy ra nhưng chưa ngăn chặn có hiệu quả. Đa số nhân dân trong vùng dự án đề nghị tăng tiền bồi thường đất. Một số địa phương xác nhận nguồn gốc đất chậm, giải quyết thủ tục còn lúng túng dẫn đến công tác bồi thường, giải phóng mặt bằng và triển khai dự án chậm tiến độ.

Mặc dù đã có chủ trương của Chính phủ nhưng chưa huy động đủ nguồn vốn đầu tư các công trình trọng điểm như: Cầu Cửa Đại, dự án nạo vét khẩn cấp sông Trường Giang

Công tác quản lý môi trường, tài nguyên có chuyển biến tích cực nhưng vẫn chưa đáp ứng được yêu cầu đặt ra. Việc khai thác trái phép các khoáng sản như: Vật liệu xây dựng, vàng sa khoáng, khai thác lâm sản vẫn còn tiếp diễn.  

Kinh tế - xã hội miền núi phát triển còn chậm, đời sống nhân dân còn gặp nhiều khó khăn. Địa bàn các huyện miền núi trong đó có 03 huyện nghèo với điều tự nhiên không thuận lợi, địa hình phức tạp, đồng bào dân tộc thiểu số chiếm tỷ lệ cao; năng lực cán bộ cơ sở thôn, bản còn nhiều hạn chế, ảnh hưởng lớn đến công tác giảm nghèo.

Tai nạn giao thông đường bộ vẫn còn ở mức cao.

 

Phần thứ hai

 

ĐỊNH HƯỚNG PHÁT TRIỂN KINH - TẾ XÃ HỘI NĂM 2011 

 

I. NHIỆM VỤ VÀ CÁC CHỈ TIÊU CHỦ YẾU

 

 1. Nhiệm vụ chủ yếu

Đẩy mạnh chuyển dịch cơ cấu kinh tế theo hướng phát triển nhanh công nghiệp, dịch vụ; đồng thời, chú trọng phát triển nông nghiệp và nông thôn. Tiếp tục cải thiện môi trường đầu tư, tạo đột phá về xây dựng kết cấu hạ tầng, nhất là những công trình qui mô lớn và phát triển nguồn nhân lực.

 

2. Các chỉ tiêu chủ yếu

2.1. Các chỉ tiêu về kinh tế

- Tổng sản phẩm trong tỉnh (GDP) tăng 13,5% so với năm 2010

- GTSX ngành nông lâm ngư tăng 4,5%

- GTSX của ngành công nghiệp và xây dựng tăng khoảng trên 20%, trong đó GTSX công nghiệp tăng 24% (một số nhà máy lớn đi vào hoạt động ổn định sẽ làm tăng thêm giá trị của ngành như thủy điện A vương với 815 triệu Kwh điện/năm; kính nổi; một số nhà máy sản xuất gạch men mở rộng sản xuất)

- GTSX các ngành dịch vụ tăng khoảng 16,5%.

- Tổng kim ngạch xuất khẩu 312 triệu USD, tăng 20%.

- Tổng vốn đầu tư toàn xã hội khoảng 13.600 tỷ đồng, tăng 18,5%, chiếm  47% GDP.

2.2. Các chỉ tiêu về xã hội

- Tạo việc làm mới 38.000 lao động

- Giảm tỷ lệ hộ nghèo từ 2,5-3%

- Giảm tỷ lệ trẻ em suy dinh dưỡng còn dưới 17%

2.3. Các chỉ tiêu về môi trường

100% dự án mới tại các khu, cụm công nghiệp, khu kinh tế phải có hệ thống xử lý nước thải đảm bảo đạt tiêu chuẩn.

Tỷ lệ che phủ rừng đến cuối năm 2011: 46%

Tỷ lệ sử dụng nước sinh hoạt hợp vệ sinh 85% 

 

II. DỰ KIẾN CÂN ĐỐI LỚN TRONG NĂM 2011 

 

1. Khả năng cân đối ngân sách

Dự kiến tổng thu ngân sách trên địa bàn 4.080 tỷ đồng, tăng 6,3% so với ước thực hiện năm 2010. Trong đó thu nội địa 2.700 tỷ đồng, tăng gần 19% so với ước thực hiện năm 2010; thu xuất nhập khẩu 1.080 tỷ đồng.

Chi ngân sách địa phương 6.184 tỷ đồng, bằng 76% so với ước thực hiện năm 2010. Trong đó đầu tư phát triển trên 1.630 tỷ đồng; chi thường xuyên 4.085 tỷ đồng.

 

2. Dự báo cân đối vốn đầu tư phát triển

- Tổng vốn đầu tư toàn xã hội dự kiến 13.600 tỷ đồng, tăng 18,5% so với ước thực hiện năm 2010. Trong đó:

Ngân sách nhà nước địa phương quản lý, bao gồm cả nguồn vốn TPCP trên 3.000 tỷ đồng, chiếm khoảng 23% trong tổng nguồn vốn đầu tư toàn xã hội.

Dự kiến Trung ương đầu tư trên địa bàn  khoảng trên 4.200 tỷ đồng, chiếm 31% tổng nguồn.

Doanh nghiệp ngoài quốc doanh và nhân dân 3.700 tỷ đồng, chiếm 28%.

Đầu tư trực tiếp nước ngoài khoảng 1.500 tỷ đồng, chiếm trên 11%

Vốn tín dụng đầu tư phát triển chiếm khoảng 7% 

 

III. CÁC NHÓM GIẢI PHÁP CHỦ YẾU 

 

1. Tiếp tục cải thiện môi trường đầu tư, đẩy mạnh sản xuất, kinh doanh

Hoàn thành điều chỉnh, bổ sung qui hoạch tổng thể về phát triển kinh tế - xã hội của tỉnh đến năm 2020 và các qui hoạch liên quan đến tạo lập môi trường đầu tư góp phần giảm thời gian và chi phí cho các doanh nghiệp.

Giải quyết tốt công tác bồi thường thiệt hại, giải phóng mặt bằng, tái định cư, xem đây là khâu đột phát trong huy động, thu hút, quản lý đầu tư và xây dựng.  

Nghiên cứu thành lập quỹ phát triển quỹ đất, tạo nguồn tạm ứng cho công tác đền bù, giải phóng mặt bằng, tái định cư nhằm đẩy nhanh tiến độ các công trình, sau đó hoàn trả vốn. Rút ngắn thời gian đồng thời nâng cao chất lượng công tác thẩm định dự án, thẩm định thiết kế, thẩm định đấu thầu. Khắc phục tình trạng một số nhà thầu có năng lực kém nhưng vẫn được triển khai thực hiện các công trình, dẫn đến tiến độ thi công chậm, chất lượng không đảm bảo.

Huy động các nguồn lực để đầu tư các công trình kết cấu hạ tầng chính, phù hợp với sự phát triển của nền kinh tế ở mức độ cao như hoàn thành, khớp nối hệ thống các đường ven biển; Đẩy nhanh tiến độ công trình cầu Cửa Đại, hệ thống đường tránh lũ; phối hợp triển khai và đẩy nhanh việc xây dựng đường cao tốc Đà Nẵng - Dung Quất. Tập trung nguồn vốn cho các công trình trọng điểm, công trình có khả năng hoàn thành đưa vào sử dụng ngay trong năm 2011. Đẩy nhanh tiến độ các công trình giao thông, thủy lợi, Y tế, Giáo dục, nhất là đối với các công trình sử dụng nguồn vốn trái phiếu Chính phủ.

Kêu gọi, thu hút các nhà đầu tư vào Khu kinh tế mở Chu Lai song song với việc phát triển kết cấu hạ tầng, đặc biệt, nạo vét luồng cảng Kỳ Hà; thu hút  hàng hoá qua cảng Kỳ Hà gắn với quy hoạch Cảng Hàng không Chu Lai giai đoạn đến năm 2015 và định hướng đến năm 2025 và quy hoạch tổng thể phát triển kinh tế xã hội Khu kinh tế mở Chu Lai giai đoạn đến năm 2015 và tầm nhìn đến năm 2020 và qui hoạch vùng Đông của tỉnh.

Duy trì tốc độ phát triển công nghiệp cao đi đôi với nâng cao chất lượng sản phẩm, tăng khả năng cạnh tranh. Tập trung phát triển công nghiệp sản xuất điện năng theo qui hoạch; khai thác và chế biến nông lâm thủy sản, khoáng sản. Khuyến khích phát triển ngành công nghiệp phụ trợ nhằm tăng tỷ lệ nội địa hóa các sản phẩm, nhất là công nghiệp phụ trợ cho ngành sản xuất và lắp ráp ô tô, kính nổi, giầy da, may mặc. Chú trọng phát triển công nghiệp phục vụ xuất khẩu và phát triển dịch vụ. Nghiên cứu cơ chế ưu đãi phát triển một số sản phẩm công nghiệp cơ khí trọng điểm, công nghiệp công nghệ cao, chế biến sâu khoáng sản, công nghiệp phục vụ nông nghiệp, nông thôn và miền núi.

Thực hiện tốt cơ chế đăng ký hợp nhất theo hướng đầu mối duy nhất thực hiện đăng ký, thành lập doanh nghiệp. Nghiên cứu các giải pháp thúc đẩy phát triển các doanh nghiệp đã thực hiện sắp xếp, đổi mới và cổ phần hoá theo Quyết định của Thủ tướng Chính phủ đối với một số doanh nghiệp của Quảng Nam.

 

2. Bảo đảm tốt về an sinh xã hội, đẩy mạnh phát triển các lĩnh vực văn hóa xã hội

Phát triển và nâng cao chất lượng nguồn nhân lực. Tăng cường chất lượng nguồn nhân lực để trở thành một lợi thế cạnh tranh chủ yếu và lâu dài của tỉnh.

Thực hiện có hiệu quả chương trình của Tỉnh ủy, Nghị quyết HĐND về Đề án xây dựng và phát triển giáo dục mầm non của các huyện miền núi đến năm 2015; Đề án luân chuyển cán bộ quản lý, giáo viên; Đề án đẩy mạnh xã hội hóa giáo dục, tăng cường đầu tư cho giáo dục miền núi. Đề án về phát triển giáo dục và đào tạo đến năm 2020 của tỉnh

Củng cố kết quả chương trình phổ cập giáo dục và xoá mù chữ; củng cố phổ cập giáo dục trung học cơ sở. Từng bước tiến đến phổ cập trung học phổ thông.

Tiếp tục triển khai đề án kiên cố hoá trường học và nhà công vụ giáo viên. Phát huy các trường Đại học, Cao đẳng và Trung cấp trên địa bàn. Thúc đẩy dự án trường dạy nghề. Phát triển mạnh các trường ngoài công lập ở các cấp học, bậc học kể cả các trường dạy nghề theo qui hoạch được duyệt.

Phát triển quỹ khoa học và công nghệ của tỉnh. Phát triển tiềm lực khoa học và công nghệ. Phát triển các dịch vụ tư vấn về khoa học và công nghệ. Tăng cường huy động vốn đầu tư cho khoa học và công nghệ. Khuyến khích các doanh nghiệp đầu tư vào công nghệ cao, những công nghệ đảm bảo tính hiệu quả và khả năng cạnh tranh của sản phẩm. Triển khai các chương trình hỗ trợ ứng dụng và chuyển giao tiến bộ khoa học và công nghệ.

Kết hợp công tác dân số và kế hoạch hoá gia đình với bảo vệ chăm sóc và bảo vệ trẻ em và phong trào xây dựng gia đình ấm no, hạnh phúc, bình đẳng, văn minh. Phấn đấu đạt chỉ tiêu giảm sinh và ngăn ngừa mất cân bằng giới tính.

Thực hiện tốt chương trình đầu tư bệnh viện tuyến tỉnh, huyện từ chương trình trái phiếu Chính phủ. Tiếp tục thực hiện xã hội hoá trong lĩnh vực y tế, củng cố và hoàn thiện mạng lưới y tế cơ sở. Nâng cao chất lượng và phát huy hệ thống khám chữa bệnh bằng y học cổ truyền.

Cơ cấu lao động theo hướng giảm lao động nông nghiệp, tăng lao động công nghiệp - xây dựng, thương mại và dịch vụ. Nâng tỷ lệ lao động được đào tạo nghề lên 32% so với tổng số lao động. Sử dụng có hiệu quả nguồn quỹ quốc gia về việc làm, nhất là đối với các dự án chuyển đổi nghề, phát triển kinh tế hộ, kinh tế trang trại, làng nghề. Tăng cường dạy nghề cho lao động bị thu hồi đất do công nghiệp hóa, đô thị hóa và lao động xuất khẩu, nhất là lao động xuất khẩu ở các huyện nghèo của tỉnh. Phát triển các sàn giao dịch, giới thiệu việc làm và hệ thống thông tin thị trường lao động.

Xây dựng và phát triển hệ thống an sinh xã hội. Đa dạng hóa các loại hình trợ giúp xã hội, cứu trợ xã hội. Tiếp tục thực hiện các chính sách khám chữa bệnh, hỗ trợ giáo dục và đào tạo, hỗ trợ nhà ở, cho vay vốn ưu  đãi, thực hiện tốt các chính sách an sinh xã hội.

Đẩy mạnh cuộc vận động “Toàn dân tham gia công tác đền ơn đáp nghĩa” nhằm huy động mọi nguồn lực hỗ trợ, chăm sóc tốt hơn đời sống vật chất và tinh thần của người có công với cách mạng. Tăng cường hợp tác với các tổ chức từ thiện, kêu gọi sự hỗ trợ từ các nhà từ thiện, các tổ chức quốc tế trong việc hỗ trợ, giúp đỡ các đối tượng xã hội tại các cơ sở bảo trợ xã hội và cộng đồng.

Ưu tiên đầu tư các thiết chế văn hóa phục vụ cộng đồng. Tiếp tục tu bổ, tôn tạo các di sản, di tích, nhất là hai di sản văn hoá thế giới Mỹ Sơn và Hội An, các di tích quốc gia và của tỉnh. Tạo sự chuyển biến trong thực hiện phong trào ‘‘Toàn dân đoàn kết xây dựng đời sống văn ở khu dân cư’’.

Tiếp tục duy trì các hoạt động văn hoá nghệ thuật hàng năm. Phát triển phong trào thể dục thể thao, đặc biệt tạo nguồn, bồi dưỡng và phát triển thể thao thành tích cao của tỉnh. Tuyên truyền vận động và nâng tỷ lệ dân số luyện tập thể dục thể thao thường xuyên.

Thực hiện tốt chương trình quốc gia về phòng chống ma túy, trong đó thực hiện tốt công tác liên ngành. Kiểm soát được tình hình và giảm tác hại sự lây nhiễm các bệnh xã hội, đặc biệt là HIV/AIDS.

Xử lý nghiêm người và phương tiện vi phạm Luật giao thông nhằm lập lại trật tự an toàn giao thông trên toàn tỉnh. Tuyên truyền, giáo dục kiến thức về an toàn giao thông; tăng cường hệ thống biển báo, hướng dẫn giao thông; tổ chức tuần tra lưu động; giám sát chặt chẽ tốc độ của các phương tiện giao thông trên các tuyến đường có lượng lưu thông xe lớn.

 

3. Tổ chức triển khai xây dựng tốt mô hình nông thôn mới, tăng cường phát triển kết cấu hạ tầng kinh tế - xã hội nông thôn, miền núi, vùng khó khăn

 Tiếp tục triển khai chương trình hành động của Tỉnh ủy, thực hiện đầu tư trong lĩnh vực nông nghiệp và nông thôn theo tinh thần Nghị Quyết Trung ương 7. Triển khai Chương trình mục tiêu quốc gia về xây dựng nông thôn mới giai đoạn 2010-2020 theo Quyết định số 800/QĐ- TTg ngày 04/6/2010 của Thủ tướng Chính phủ.

Thực hiện tốt các chương trình đầu tư phát triển kết cấu hạ tầng nông thôn, miền núi, nhất là các huyện nghèo theo Nghị Quyết 30a/NQ-CP, chương trình các huyện được hưởng chính sách như Tây Nguyên, chương trình hỗ trợ nhà ở cho người nghèo.

Triển khai thực hiện tốt đề án phát triển giao thông nông thôn đến năm 2015; đề án về duy tu sửa chữa các tuyến đường. Quy hoạch tổng thể mạng lưới thủy lợi trên địa bàn tỉnh làm cơ sở xác định nhu cầu cũng như tạo sự chủ động trong việc huy động các nguồn vốn đầu tư cho chương trình này theo Nghị quyết 160/2010 ngày 22/4/2010 của HĐND tỉnh về tiếp tục phát triển thủy lợi nhỏ, thủy lợi hóa đất màu và kiên cố kênh mương trên địa bàn tỉnh, giai đoạn 2011-2015. Tăng cơ cấu sử dụng giống mới có năng suất cao. Phát triển sản lượng nuôi trồng. Phát triển chăn nuôi theo hướng trang trại, gia trại, gắn với chế biến tập trung và xử lý chất thải. Tăng cường kiểm soát tình hình dịch bệnh. Phòng chống các dịch bệnh cây trồng, vật nuôi, nhất là các bệnh gây hại trên lúa, hoa màu, dịch cúm gia cầm, dịch lở mồm long móng trên đàn gia súc. Đa dạng hoá các hình thức khuyến nông, khuyến lâm, khuyến ngư.  Phát triển rừng trồng kinh tế chất lượng và hiệu quả cao. Tăng cường công tác quản lý và bảo vệ rừng, đặc biệt là rừng phòng hộ. Chủ động phòng chống lụt, bão. Xây dựng các phương án phòng chống hạn.  

 

4. Giải quyết tốt các vấn đề về môi trường và phát triển bền vững

Xây dựng và thực hiện tốt kế hoạch hành động ứng phó biến đổi khí hậu. Tiếp tục thực hiện chương trình trọng điểm trong chiến lược bảo vệ môi trường. Gắn nhiệm vụ, mục tiêu bảo vệ môi trường với phát triển kinh tế - xã hội theo quan điểm phát triển bền vững. Đưa vấn đề bảo vệ môi trường vào chiến lược, quy hoạch, kế hoạch phát triển ngành, lĩnh vực và các chương trình dự án đầu tư.

Tập trung giải quyết tốt vấn đề môi trường ở các khu, cụm công nghiệp; Chú trọng xây dựng các nhà máy xử lý nước chung cho tất cả các khu công nghiệp;

Tăng cường công tác quản lý, bảo vệ rừng, phấn đấu không để xãy ra cháy rừng. Xử lý nghiêm đối với các tổ chức, cá nhân khai thác, vận chuyển lâm sản, khoáng sản trái phép. 

 

5. Đẩy mạnh hơn nữa cải cách hành chính, phòng chống tham nhũng, thực hành tiết kiệm

Xây dựng và thực hiện tốt chương trình cải cách hành chính giai đoạn 2 (2011-2015).

Phân cấp và làm rõ trách nhiệm từng cấp, ngành, đơn vị và người đứng đầu các cơ quan, thu gọn đầu mối trong giải quyết công việc hành chính với công dân và doanh nghiệp.

Đẩy mạnh thực hiện chính phủ điện tử và ứng dụng công nghệ thông tin trong hoạt động của các cơ quan nhà nước. Thực hiện tốt công tác qui hoạch, đào tạo, bồi dưỡng và sử dụng luân chuyển cán bộ.

Thực hiện kiên quyết và đồng bộ các giải pháp phòng, chống tham nhũng. Tập trung vào các giải pháp phòng ngừa, tăng cường tính công khai, đề cao vai trò giám sát của nhân dân và trách nhiệm của người đứng đầu cơ quan, đơn vị. Xử lý kịp thời, nghiêm minh các vụ vi phạm. 

 

6. Tăng cường công tác đối ngoại, quốc phòng, an ninh, đảm bảo trật tự an toàn xã hội 

Thực hiện tốt nhiệm vụ tổ chức quản lý, bảo vệ vững chắc chủ quyền biên giới quốc gia; chủ trương tăng dày cột mốc biên giới của nhà nước; tăng cường mối quan hệ đoàn kết hữu nghị đặc biệt, xây dựng “biên giới mẫu mực” giữa hai tỉnh Quảng Nam – Sê Kông.

Quản lý chặt chẽ và đẩy nhanh tiến độ các dự án đường tuần tra biên giới, hệ thống đồn biên phòng; các dự án thuộc chương trình Biển Đông - Hải đảo.

Tiếp tục bồi dưỡng kiến thức quốc phòng, an ninh cho các đối tượng và toàn dân. Từng bước xây dựng một số công trình phòng thủ trong khu vực phòng thủ, công trình phòng thủ dân sự.  Xây dựng kế hoạch huấn luyện lực lượng dân quân tự vệ, lực lượng dự bị động viên, lực lượng tìm kiếm cứu nạn ở các cấp đạt chất lượng tốt. Các huyện ven biển chuẩn bị tốt lực lượng, phương tiện, giám sát hoạt động ngư dân, tàu thuyền, tham gia bảo vệ biển đảo. Triển khai sâu, rộng phong trào “Toàn dân bảo vệ an ninh Tổ quốc”. Tăng cường công tác tuyên truyền, giáo dục nâng cao ý thức chấp hành luật pháp.

CTTDT  (Nguồn: Báo cáo 160/BC-UBND)

Lượt xem:  5,464

Ý kiến độc giả
{{NguoiGui}}   ()
gửi lúc {binding NgayGui, convert=dateConverter}
{{ HienThiNoiDung(NoiDung,TrangThai)}}
Chưa có bình luận nào của độc giả.
Tin đã đưa
Trang 1 / 2 1 2 ››
Xem theo ngày :