Kiểm điểm công tác chỉ đạo, điều hành năm 2010 của UBND tỉnh
Chủ nhật, ngày 30/01/2011 | 02:04 AM (GMT +7)

Tại kỳ họp thứ 25-Hội đồng nhân dân tỉnh khóa VII, UBND tỉnh đã báo cáo nhận định, đánh giá tình hình kinh tế - xã hội năm 2010. Báo cáo này chỉ kiểm điểm công tác chỉ đạo điều hành thực hiện các mục tiêu, nhiệm vụ đã đề ra, quy chế làm việc, quy định chế độ họp trong năm 2010 của UBND tỉnh.

 

 

I. KIỂM ĐIỂM CÔNG TÁC CHỈ ĐẠO, ĐIỀU HÀNH

 

KẾ HOẠCH PHÁT TRIỂN KTXH NĂM 2010 CỦA UBND TỈNH

 

1. Tập trung chỉ đạo các nhiệm vụ trọng tâm, trọng điểm các mục tiêu tăng trưởng kinh tế, góp phần kiềm chế lạm phát

 

Thực hiện Nghị quyết số 03/NQ-CP ngày 15 tháng 01 năm 2010 của Chính phủ, Nghị quyết số 148/2009/NQ-HĐND ngày 10/12/2009 của HĐND tỉnh về nhiệm vụ năm 2010, UBND tỉnh đã kịp thời triển khai giao kế hoạch và phân bổ dự toán ngân sách nhà nước năm 2010 cho các ngành và địa phương; ban hành Chương trình công tác của UBND tỉnh, đề ra 7 nhóm giải pháp cơ bản, trọng tâm để triển khai thực hiện.

 

Năm 2010, kinh tế tiếp tục tăng trưởng khá, tổng sản phẩm trên địa bàn tăng 12,7% (vượt 0,2% KH), hầu hết các chỉ tiêu đề ra đều đạt và vượt; đặc biệt thu ngân sách vượt dự toán, nguồn đầu tư phát triển tăng khá, đạt nhiều kết quả quan trọng, an sinh xã hội được đảm bảo, đời sống nhân dân được cải thiện, quốc phòng an ninh được giữ vững, quan hệ đối ngoại được tăng cường. Đạt được kết quả nêu trên, UBND tỉnh đã tập trung chỉ đạo điều hành triển khai, thực hiện có hiệu quả các chủ trương của Chính phủ, các Nghị quyết của Tỉnh ủy, HĐND tỉnh về nhiệm vụ phát triển KTXH-QPAN; tập trung chỉ đạo, điều hành các nhiệm vụ có trọng tâm, trọng điểm, giữ vững mục tiêu tăng trưởng kinh tế, đảm bảo an sinh xã hội, góp phần kiềm chế lạm phát.

 

 

UBND tỉnh đã kịp thời ban hành Chỉ thị và Kế hoạch triển khai thực hiện Nghị quyết số 18/NQ-CP ngày 06 tháng 4 năm 2010 của Chính phủ về các giải pháp ổn định kinh tế, không để lạm phát tăng cao và đạt tốc độ tăng trưởng kinh tế; tập trung đẩy mạnh phát triển sản xuất kinh doanh, dịch vụ và xuất khẩu, thực hiện đồng bộ, quyết liệt các giải pháp nhằm góp phần ngăn chặn lạm phát, duy trì tăng trưởng kinh tế, đảm bảo an sinh xã hội; thành lập đội kiểm tra liên ngành để tăng cường kiểm soát giá cả thị trường, không để xảy ra đột biến ảnh hưởng đến sản xuất và đời sống của cộng đồng.  

 

UBND tỉnh đã tập trung chỉ đạo đồng bộ với nhiều giải pháp và các cơ chế, chính sách phù hợp, khuyến khích và tạo điều kiện cho các thành phần kinh tế phát triển sản xuất, kinh doanh, dịch vụ, du lịch và xuất khẩu, trong đó chú trọng mục tiêu tăng trưởng kinh tế, đảm bảo chuyển dịch cơ cấu kinh tế theo hướng phát triển mạnh công nghiệp, dịch vụ, du lịch, đầu tư phát triển kinh tế nông nghiệp, nông thôn và miền núi. Việc huy động vốn đạt khá, tăng 23% so với năm 2009. Cơ cấu kinh tế các ngành công nghiệp- xây dựng và dịch vụ năm 2010 chiếm 78,6 % trong GDP (năm 2009 - 76,3%).

 

             Năm 2010, kết cấu hạ tầng kinh tế được tập trung đầu tư, đạt kết quả. Vốn đầu tư phát triển tăng 25,6% so với năm 2009. Tình hình giải ngân các nguồn vốn năm 2010 chuyển biến tốt hơn các năm trước, cơ bản đảm bảo theo kế hoạch vốn. Thường xuyên kiểm tra, chỉ đạo các ngành và địa phương tập trung giải quyết những vướng mắc về công tác bồi thường, giải phóng mặt bằng, hỗ trợ tái định cư để triển khai các dự án trọng điểm của tỉnh và thu hút các dự án vào Khu KTM Chu Lai, các khu, cụm công nghiệp trên địa bàn. Năm 2010, một số  dự án quan trọng được khởi công, triển khai xây dựng như các tuyến đường cứu nạn, cứu hộ ở vùng Đông Thăng Bình, Tam Kỳ, Núi Thành; nạo vét luồng cảng Kỳ Hà, sông Trường Giang, xây dựng cảng Tam Hiệp, nhà máy sản xuất Sô đa, Nhà máy Xi măng Thạnh Mỹ…; nhiều công trình đã hoàn thành và đưa vào sử dụng như Hồ Đông Tiễn, Nhà máy nước Khâm Đức... một số nhà máy đã đi vào hoạt như Nhà máy cồn nhiên liệu, Nhà máy kính nổi, Nhà máy khung gầm thùng xe, Công ty may Đồng Xanh, Valley view…đóng góp vào sự tăng trưởng chung của kinh tế tỉnh nhà. Thúc đẩy triển khai và đẩy nhanh tiến độ thi công đường Nam Quảng Nam giai đoạn 1, Cầu Cửa Đại, các công trình đầu tư thuộc dự án sắp xếp dân cư ven biển, Cầu Hương An, Cầu Bà Rén, dự án Thủy điện Sông Tranh 2, Sông Bung 4,…Nhiều dự án do các địa phương quản lý, làm chủ đầu tư đã triển khai khởi công; một số dự án đã đưa vào hoạt động, góp phần tăng trưởng kinh tế và giải quyết việc làm lao động nông thôn.

 

Công tác sắp xếp, đổi mới, cổ phần hóa các doanh nghiệp nhà nước trên địa bàn cơ bản đã hoàn thành theo đúng chỉ đạo của Thủ tướng Chính phủ, đảm bảo lộ trình, kế hoạch đề ra. Nhiều doanh nghiệp phát triển tốt và đạt kết quả trong sản xuất kinh doanh sau khi cổ phần hóa.

 

2. Nông nghiệp, nông thôn và miền núi tiếp tục được đầu tư phát triển

 

UBND tỉnh chú trọng đầu tư phát triển nông nghiệp, nông thôn và miền núi, năm 2010 tổng vốn đầu tư vào lĩnh vực này tăng khá, nhiều dự án được triển khai, hạ tầng kinh tế nông thôn, miền núi ngày càng tốt hơn, giao thông, thủy lợi, điện, bưu chính-viễn thông, trường học, trạm y tế,… được quan tâm đầu tư, bộ mặt nông thôn, miền núi và đời sống nhân dân có chuyển biến tích cực. Phong trào bê tông hóa GTNT tiếp tục phát triển mạnh ở hầu hết các địa phương, nhân dân đồng tình hưởng ứng và tích cực tham gia, đã hoàn thành kế hoạch năm 2010 với hơn 300km, tổng kinh phí gần 140 tỷ đồng, trong đó ngân sách tỉnh 58 tỷ đồng, ngân sách huyện, thành phố và nhân dân đóng góp 81 tỷ đồng; chỉ đạo quyết liệt việc bàn giao lưới điện nông thôn cho ngành điện quản lý theo chỉ đạo của Thủ tướng Chính phủ.

 

            Công tác xây dựng nông thôn mới được tập trung, thành lập Ban chỉ đạo, Văn phòng điều phối cấp tỉnh. Đã triển khai thực hiện thí điểm mô hình nông thôn mới tại xã Tam Phước, huyện Phú Ninh bước đầu đạt nhiều kết quả, tiếp tục chỉ đạo triển khai xây dựng mô hình huyện nông thôn mới Phú Ninh và các xã điểm tại các huyện, thành phố.

 

Chỉ đạo các địa phương đẩy mạnh công tác dồn điền đổi thửa, tăng diện tích giống lúa lai, chuyển đổi cây trồng, phát triển chăn nuôi, nuôi trồng, khai thác, chế biến thủy hải sản đạt hiệu quả; hoàn thành thắng lợi kế hoạch sản xuất năm 2010, triển khai sản xuất vụ Đông Xuân 2010-2011; tích cực triển khai các chương trình trồng rừng và trồng rừng thay thế nương rẫy, phát triển trồng cao su đại điền, tiểu điền ở các địa phương miền núi. Các chương trình khuyến nông, khuyến lâm, đưa khoa học kỹ thuật vào sản xuất được quan tâm chỉ đạo, đẩy mạnh. Đã ban hành kịp thời các cơ chế, chính sách hỗ trợ khôi phục sản xuất nông nghiệp. Chỉ đạo kịp thời, quyết liệt công tác phòng chống dịch bệnh trên cây trồng và vật nuôi.

 

 UBND tỉnh chỉ đạo các ngành và địa phương triển khai thực hiện có hiệu quả các chương trình mục tiêu, hỗ trợ có mục tiêu đối với miền núi, nhất là các chính sách hỗ trợ phát triển kinh tế miền núi như Chương trình 135 (giai đoạn 2), Nghị quyết 30a/2008/NQ-CP, cơ chế hỗ trợ các huyện miền núi như các tỉnh Tây Nguyên, chính sách trợ cước, trợ giá, các chương trình đào tạo cán bộ miền núi, quan tâm chăm lo đến học sinh các trường bán trú ở miền núi nên hạn chế tình trạng học sinh bỏ học giữa chừng….

 

 

3. Văn hóa xã hội có những chuyển biến tích cực, tổ chức thành công các hoạt động văn hóa, các sự kiện quan trọng diễn ra trong năm. Thực hiện có hiệu quả các chính sách an sinh xã hội, chính sách đối với người có công

 

            Hoạt động tuyên truyền, cổ động được đẩy mạnh, chào mừng kỷ niệm 80 năm ngày thành lập Đảng Cộng sản Việt Nam, 120 năm ngày sinh Chủ tịch Hồ Chí Minh, 35 năm giải phóng tỉnh Quảng Nam, 45 năm chiến thắng Núi Thành; chào mừng đại hội các cấp tiến tới đại hội Đảng toàn quốc lần thứ XI.  Tổ chức nhiều hoạt động văn hóa giao lưu nhân kỷ niệm 45 năm Hàm Rồng chiến thắng, 50 năm kết nghĩa với tỉnh Thanh Hóa, 1.000 năm Thăng Long -Hà Nội và nhiều sự kiện quan trọng khác. Tổ chức thành công Đại hội thể dục thể thao toàn tỉnh lần thứ VI, Đại hội thi đua yêu nước lần thứ VI. Chất lượng giáo dục và đào tạo có tiến bộ, tỷ lệ tốt nghiệp THPT đạt cao (95,46%, tăng hơn năm học 2008-2009 10%); thực hiện việc chuyển đổi các loại hình Trường Mẫu giáo bán công, THPT bán công sang công lập, luân chuyển giáo viên giữa miền núi với đồng bằng theo Nghị quyết của HĐND tỉnh. Thực hiện tốt công tác chăm sóc sức khỏe nhân dân, khống chế được các loại dịch bệnh. Hoạt động khoa học, công nghệ, thông tin, truyền thông, báo chí, phát thanh truyền hình đạt nhiều kết quả, tuyên truyền tốt nhiệm vụ chính trị của địa phương, tạo sự đồng thuận trong các tầng lớp xã hội, góp phần xây dựng phát triển tỉnh nhà.

 

Triển khai và chỉ đạo các ngành và địa phương thực hiện tốt các chính sách hỗ trợ cho hộ nghèo đón Tết Canh Dần, quan tâm đến đời sống nhân dân vùng khó khăn, vùng bị thiệt hại nặng do thiên tai 2009 và đợt lũ tháng 10/2010; thực hiện tốt chính sách trợ giúp thường xuyên cho các đối tượng bảo trợ xã hội theo Nghị định số 67/2007/NĐ-CP và Nghị định số 13/2010/NĐ-CP của Chính phủ với 65 ngàn đối tượng, kinh phí 180 tỷ đồng; hỗ trợ xây dựng gần 4.300 nhà cho hộ nghèo theo Quyết định 167/2008/QĐ-TTg của Thủ tướng Chính phủ; xây dựng 1.249 nhà cho hộ nghèo và đầu tư 60 tỷ đồng xây dựng 71 công trình phục vụ dân sinh tại 3 huyện nghèo thuộc Chương trình 30a của Chính phủ.

 

UBND tỉnh rất quan tâm chỉ đạo việc thực hiện các chính sách về đầu tư xây dựng ký túc xá cho học sinh, sinh viên, nhà ở cho người lao động có thu nhập thấp ở đô thị, nhà ở cho người nghèo; chính sách hỗ trợ vốn vay để tổ chức cá nhân phát triển sản xuất, kinh doanh; chính sách tín dụng phục vụ sản xuất nông nghiệp; chính sách hỗ trợ cho học sinh miền núi, con em đồng bào dân tộc thiểu số…Thực hiện tốt các chính sách an sinh xã hội nêu trên đã góp phần cải thiện đời sống nhân dân, giảm tỷ lệ hộ nghèo còn 17 %.

 
       Công tác đền ơn đáp nghĩa, chăm lo các đối tượng chính sách, người có công với cách mạng được thực hiện đầy đủ, kịp thời; tiếp tục xác nhận, giải quyết chính sách cho 976 hồ sơ tồn đọng. Tổ chức long trọng, chu đáo lễ viếng và truy điệu Mẹ Nguyễn Thị Thứ, Mẹ Việt Nam Anh hùng tiêu biểu của cả nước. Tỉnh hỗ trợ kinh phí, trợ cấp 1 lần đối với 1 tập thể và 415 cá nhân thuộc tỉnh Sê Kông –Lào có công giúp đỡ Quảng Nam trong kháng chiến chống Mỹ.
 

            4. Chỉ đạo thực hiện tốt nhiệm vụ cải cách hành chính; công tác tuyển dụng, quản lý, đào tạo, bồi dưỡng, bổ nhiệm cán bộ, công chức viên chức; đẩy mạnh công tác đấu tranh phòng, chống tham nhũng, lãng phí; thực hành tiết kiệm

 

            UBND tỉnh tiếp tục đẩy mạnh thực hiện cơ chế một cửa, một cửa liên thông tại các địa phương, đơn vị. Tổng kết đánh giá chương trình tổng thể cải cách hành chính giai đoạn 2001-2010. Tập trung chỉ đạo triển khai thực hiện tốt đề án Đơn giản hóa thủ tục hành chính trên các lĩnh vực quản lý nhà nước giai đoạn 2007-2010. Các Sở, ngành tiếp tục thực hiện việc trình trực tiếp trên 2.500 thủ tục hành chính thuộc thẩm quyền theo quy định tại Quyết định số 459/QĐ-UBND ngày 01/2/2010 của UBND tỉnh. Công tác ứng dụng công nghệ thông tin trong việc quản lý, điều hành, thông tin, báo cáo được các ngành và địa phương chú trọng; Văn phòng UBND tỉnh, một số ngành và địa phương đã thực hiện tốt việc gửi giấy mời, tài liệu họp qua Website…

 

            UBND tỉnh chỉ đạo các Sở, ngành, địa phương tiếp tục rà soát, sắp xếp bộ máy cơ quan chuyên môn cấp tỉnh, huyện theo hướng dẫn của Trung ương đảm bảo nguyên tắc quản lý đa ngành, đa lĩnh vực, tinh gọn đầu mối và phù hợp với thực tế của địa phương. Thành lập Văn phòng BCĐ Phòng chống tham nhũng tỉnh; sáp nhập BQL sắp xếp dân cư ven biển vào BQL Kinh tế mở Chu lai. Chỉ đạo chặt chẽ công tác tuyển dụng công chức, viên chức theo quy định; tăng cường công tác quản lý cán bộ, công chức, viên chức theo Luật Công chức và các Nghị định Chính phủ. Công tác bổ nhiệm và bổ nhiệm lại cán bộ quản lý ở các Sở, ngành, địa phương được thực hiện công khai, dân chủ, đảm bảo quy trình. Công tác đào tạo, bồi dưỡng cán bộ công chức viên chức được chú trọng. Công tác thi đua khen thưởng được thực hiện đúng Luật và quy định hiện hành của Nhà nước.

      Công tác thanh tra được tăng cường, đạt kế hoạch đề ra; công tác đấu tranh phòng, chống tham nhũng, lãng phí, thực hành tiết kiệm được chỉ đạo thường xuyên; duy trì tốt công tác tiếp công dân, giải quyết đơn thư khiếu nại tố cáo; xử lý kịp thời, dứt điểm một số vụ việc, tồn đọng kéo dài.
             5. Về công tác quản lý bảo vệ tài nguyên, khoáng sản; kiềm chế tai nạn giao thông
 

UBND tỉnh tổ chức hội nghị quán triệt, ban hành Phương án và triển khai thực hiện quyết liệt công tác quản lý và bảo vệ rừng, phòng cháy chữa cháy rừng năm 2010. Củng cố và tăng cường hoạt động của các đội kiểm tra, kiểm soát liên ngành, tuần tra, truy quét, đẩy đuổi, phát hiện và xử lý các vụ khai thác, vận chuyển lâm, khoáng sản trái phép trên địa bàn được tăng cường.

 

UBND tỉnh chỉ đạo quyết liệt, đồng bộ các giải pháp kiềm chế tai nạn giao thông trên địa bàn tỉnh, đẩy mạnh công tác tác tuyên truyền về an toàn giao thông; tổ chức “Tháng an toàn giao thông”, triển khai thực hiện Nghị định 34/2010/NĐ-CP của Chính phủ tăng cường công tác kiểm tra, kiểm soát, xử lý nghiêm các đối tượng vi phạm, tuy nhiên tai nạn giao thông vẫn tăng cả 3 tiêu chí. Tiếp tục chỉ đạo thực hiện việc giải tỏa đảm bảo an toàn hành lang tuyến Quốc lộ 1A, ĐT, ĐH theo Quyết định 1856/QĐ-TTg của Thủ tướng Chính phủ.

 

6. Quốc phòng an ninh được đảm bảo. Công tác đối ngoại được tăng cường

 

UBND tỉnh chỉ đạo, điều hành và tổ chức thực hiện khá toàn diện nhiệm vụ Quốc phòng, quân sự địa phương, giữ vững ổn định chính trị, phục vụ tốt nhiệm vụ phát triển kinh tế-xã hội. Xây dựng khu vực phòng thủ ngày càng vững chắc, nền quốc phòng toàn dân, thế trận quốc phòng toàn dân, an ninh nhân dân được tăng cường, giáo dục quốc phòng an ninh triển khai đồng bộ. Bảo vệ tốt Đại hội Đảng các cấp, các hoạt động kỷ niệm các ngày lễ lớn trong năm. Hoàn thành chỉ tiêu giao quân năm 2010.

 

Công tác đối ngoại ngày càng mở rộng, UBND tỉnh chỉ đạo chặt chẽ và đúng quy định. Năm 2010 đã có 171 đoàn, 668 lượt cán bộ, công chức được cử đi nước ngoài để tham gia các hội nghị, hội thảo, nghiên cứu thị trường, xúc tiến đầu tư, đào tạo, bồi dưỡng chuyên môn nghiệp vụ, học tập rút kinh nghiệm…UBND tỉnh tiếp và làm việc với 20 đoàn khách quốc tế từ các nước đến tìm hiểu cơ hội đầu tư trên địa bàn tỉnh. Thực hiện đầy đủ các cam kết thường niên giữa 2 tỉnh Quảng Nam và Sê kông (Lào).

 
 

 

II. KIỂM ĐIỂM THỰC HIỆN

 

 

QUY CHẾ LÀM VIỆC, HỌP CỦA UBND TỈNH

 

1. Về chế độ trách nhiệm và thực hiện quy chế làm việc

 

Chủ tịch, các Phó Chủ tịch và các Ủy viên UBND tỉnh đã thể hiện vai trò trách nhiệm của mình trong công tác chỉ đạo, điều hành với nhiệm vụ được phân công. Chủ tịch UBND tỉnh phân công nhiệm vụ cho các Phó Chủ tịch phù hợp với tình hình thực tiễn đảm bảo chỉ đạo điều hành trên các lĩnh vực. Chủ tịch, các Phó Chủ tịch đã chủ động bố trí thời gian, tích cực làm việc với Chính phủ và các Bộ, ngành Trung ương thực hiện ý kiến kết luận của Thủ tướng Chính phủ tại buổi làm việc với lãnh đạo tỉnh (Thông báo số 199/TB-VPCP ngày 15/7/2010 của Văn phòng Chính phủ); đồng thời tranh thủ sự hỗ trợ nguồn vốn các chương trình mục tiêu, trái phiếu Chính phủ và cơ chế để triển khai thực hiện một số dự án lớn của tỉnh; các CTMT về y tế, giáo dục, văn hóa xã hội, các chương trình giảm nghèo, miền núi, an sinh xã hội…

 

UBND tỉnh thường xuyên theo dõi thông tin từ Trung ương, các ý kiến chỉ đạo của Chính phủ, Thủ tướng Chính phủ để kịp thời có giải pháp chỉ đạo, điều hành; đi kiểm tra, làm việc với các ngành và địa phương để xử lý những vướng mắc, khó khăn, cấp bách xảy ra trên địa bàn như: Chỉ đạo kịp thời, quyết liệt hiệu quả, sát thực tiễn những vấn đề nảy sinh, phức tạp, nhất là công tác phòng, chống hạn, phòng chống bão lụt, phòng chống dịch bệnh và khắc phục hậu quả, kịp thời khôi phục sản xuất và ổn định đời sống nhân dân…được nhân dân đồng tình, tin tưởng. Trong năm 2010, Chủ tịch và các đồng chí Phó chủ tịch UBND tỉnh đã có 105 cuộc làm việc với Chính phủ, Thủ tướng Chính phủ, Văn phòng Chính phủ và các Bộ, ngành Trung ương (tại Quảng Nam và Hà Nội), 324 cuộc làm việc, kiểm tra với các Sở, ban, ngành, địa phương, đơn vị, tiếp công dân trên địa bàn tỉnh và ban hành 204 thông báo chỉ đạo thực hiện, trong đó các Sở, ngành 37, đơn vị, doanh nghiệp, các hội đoàn thể, tổ chức khác 138, các huyện, thành phố 24, tiếp công dân 5 thông báo.

 

 

2. Về thực hiện chương trình công tác

 

Năm 2010, trong chương trình công tác UBND tỉnh đã đề ra 7 nhóm giải pháp chủ yếu, trong đó trọng tâm là tập trung triển khai các chương trình, các nhóm giải pháp cấp bách về thúc đẩy phát triển sản xuất, kinh doanh và xuất khẩu, giữ vững mức tăng trưởng kinh tế, ngăn chặn lạm phát, đảm bảo an sinh xã hội.

 

Các ngành đã tích cực triển khai các giải pháp, xây dựng các đề án, văn bản QPPL để thực hiện tốt chương trình công tác của UBND tỉnh. Đến cuối năm có 32 đề án, trên các lĩnh vực KTXH, ANQP đã trình UBND tỉnh thông qua và ban hành, trong đó có một số đề án quan trọng được HĐND tỉnh ban hành Nghị quyết chuyên đề tại các kỳ họp thứ 23, 24, 25 (Khóa VII).

 

Trong năm 2010, UBND tỉnh đã ban hành  trên 12.600 văn bản các loại, trong đó có 30 văn bản QPPL. Tiếp nhận, xử lý  ­trên 19.000 văn bản của Trung ương, các ngành, địa phương, tổ chức khác.

 

 

3. Về thực hiện quy chế họp

 

UBND tỉnh duy trì tốt chế độ giao ban hằng tuần giữa Chủ tịch và các Phó Chủ tịch, ban hành kịp thời Thông báo về chủ trương của tỉnh đến các ngành và địa phương triển khai thực hiện.

 

Năm 2010, UBND tỉnh đã họp 12 phiên thường kỳ hằng tháng, đánh giá sát đúng tình hình phát triển KT-XH, triển khai kịp thời các nhiệm vụ công tác trọng tâm của tháng, quý đến để chỉ đạo các ngành, địa phương tổ chức thực hiện. Ngoài ra, UBND tỉnh đã tổ chức 5 phiên họp bất thường để thông qua các đề án, văn bản QPPL, bàn giải quyết một số nhiệm vụ trọng tâm, cấp thiết …

 

Việc phân cấp cho các ngành, địa phương giải quyết, xử lý các nội dung công việc thuộc thẩm quyền được tăng cường nên từng bước giảm các cuộc họp không cần thiết. Chất lượng nội dung các cuộc họp, hội nghị, các buổi làm việc với các ngành và địa phương có sự chuẩn bị tốt hơn về nội dung. Việc thông báo kết luận của Chủ tịch, Phó Chủ tịch UBND tỉnh khi làm việc với các ngành và địa phương kịp thời, chất lượng.

 

 

III. ĐÁNH GIÁ CHUNG

 

 

Thực hiện nhiệm vụ 2010 ngoài những yếu tố thuận lợi, tỉnh ta gặp không ít khó khăn do kinh tế thế giới và trong nước tiếp tục có những diễn biến phức tạp, khó lường; tình hình dịch bệnh trong chăn nuôi, thiếu điện, hạn hán, lũ lụt, giá cả thị trường biến động gây khó khăn cho sản xuất và xuất khẩu…Kết thúc năm 2010 tỉnh ta cơ bản đã hoàn thành và hoàn thành vượt mức một số chỉ tiêu kế hoạch theo Nghị Quyết của HĐND tỉnh đề ra. Những kết quả đạt được trong năm 2010 thể hiện sự lãnh đạo của Tỉnh ủy, giám sát của HĐND, sự phối hợp chặt chẽ của Ủy ban Mặt trận Tổ quốc tỉnh và các đoàn thể nhân dân, sự chỉ đạo điều hành chủ động, linh hoạt, quyết liệt, đồng bộ của UBND tỉnh, sự nỗ lực của các cấp, các ngành, đóng góp tích cực của toàn dân, doanh nghiệp trên địa bàn tỉnh. Tuy nhiên, công tác chỉ đạo điều hành của UBND tỉnh  còn một số tồn tại, hạn chế, đó là:

 

- Việc triển khai thực hiện chủ trương, giải pháp tăng trưởng kinh tế, ngăn chặn lạm phát, đảm bảo an sinh xã hội ở một số ngành, địa phương còn chậm, chưa đồng bộ, thiếu bền vững, hiệu quả chưa cao. Năng lực cạnh tranh về thương hiệu, sản phẩm hàng hóa xuất khẩu, sản phẩm du lịch còn khó khăn.

 

            - Bộ máy quản lý hành chính nhà nước ở các phòng, ban đơn vị trực thuộc của một số Sở, ngành không giảm, biên chế tăng lên. Tác phong, lề lối làm việc, tinh thần, thái độ phục vụ nhân dân, phục vụ doanh nghiệp ở một bộ phận cán bộ, công chức còn chậm chuyển biến, hiệu quả làm việc chưa cao, còn đùn đẩy, thiếu trách nhiệm, gây phiền hà cho tổ chức và công dân.

 

- Cải cách hành chính có nhiều chuyển biến, tuy nhiên cải cách thủ tục chính về đầu tư vẫn chưa đáp ứng yêu cầu; công tác giải phóng mặt bằng, bồi thường, hỗ trợ tái định cư còn vướng mắc, khó khăn làm chậm tiến độ triển khai dự án và ảnh hưởng đến khối lượng XDCB, giải ngân nguồn vốn. Các Ban bồi thường, giải phóng mặt bằng ở huyện, các Ban quản lý dự án đầu tư xây dựng cơ bản ở tỉnh đã được chỉ đạo, củng cố nhưng vẫn còn nhiều bất cập, thiếu tính chuyên nghiệp, chưa đáp ứng yêu cầu nhiệm vụ.

 

 - Công tác quy hoạch được các ngành và địa phương quan tâm, tuy nhiên vẫn còn bộc lộ một số hạn chế, yếu kém như quy hoạch còn thiếu tập trung, dàn trải, quy hoạch xây dựng, quy hoạch sử dụng đất với quy hoạch tổng thể phát triển kinh tế-xã hội chưa đồng bộ, thống nhất; chất lượng quy hoạch còn thấp, dự báo chưa cao. Công tác quản lý đất đai, bảo vệ tài nguyên khoáng sản được tập trung chỉ đạo quyết liệt nhưng hiệu quả đem lại chưa cao, còn nhiều khó khăn phức tạp; nạn khai thác lâm, khoáng sản trái phép xử lý chưa triệt để; tình trạng ô nhiễm môi trường còn xảy ra ở các khu, cụm công nghiệp, các cơ sở sản xuất nhưng chưa có giải pháp xử lý dứt điểm.

 

- Công tác xã hội hóa trên lĩnh vực văn hóa-xã hội hiệu quả chưa cao. Công tác đào tạo đội ngũ lao động lành nghề chưa đáp ứng yêu cầu phục vụ sản xuất. Tai nạn giao thông vẫn còn ở mức cao (tăng 84 vụ, tăng 44 người chết và tăng 85 người bị thương so với năm 2009), các tệ nạn xã hội chưa xử lý kiên quyết, hữu hiệu. Kết quả giảm nghèo chưa bền vững, đời sống một bộ phận nhân dân còn nhiều khó khăn.

 

- Việc thực hiện các chủ trương của UBND tỉnh, ý kiến chỉ đạo của Chủ tịch, Phó Chủ tịch UBND tỉnh ở một Sở, ngành, địa phương chưa kịp thời, thiếu chủ động; công tác kiểm tra đôn đốc việc thực hiện chưa sâu sát và quyết liệt. Thẩm quyền xử lý công việc của các Sở, ngành và địa phương đã được tỉnh phân cấp nhưng phát huy hiệu quả chưa cao, có việc thuộc thẩm quyền ngành, địa phương giải quyết nhưng lại đề nghị UBND tỉnh giải quyết.

 

- Việc đăng ký xây dựng đề án, văn bản QPPL chất lượng, hiệu quả đạt thấp do không dự lường hết các vấn đề phát sinh, nguồn lực thực hiện, tình trạng đăng ký đề án, văn bản QPPL bổ sung còn phổ biến. Năm 2010,  thực hiện đạt 32/43 đề án (đạt 74,4% ) trong đó trình HĐND tỉnh 24 đề án; thực hiện 31/44 văn bản QPPL (đạt trên 70 %).

 

- Thực hiện quy chế làm việc, họp ở một số ngành, địa phương chưa nghiêm, tình trạng cử dự họp thay chưa khắc phục; việc chuẩn bị nội dung một số cuộc họp chất lượng chưa cao. Công tác thông tin báo cáo, ứng dụng công nghệ thông tin còn  hạn chế, chưa kịp thời.

 

Trên đây là báo cáo kiểm điểm công tác chỉ đạo, điều hành của UBND tỉnh thực hiện nhiệm vụ năm 2010, lãnh đạo UBND tỉnh, các ngành và địa phương tiếp tục phát huy những kết quả đạt được, nghiêm túc rút kinh nghiệm và có giải pháp khắc phục những tồn tại, khuyết điểm để chỉ đạo điều hành thực hiện nhiệm vụ, mục tiêu phát triển KTXH, QPAN năm 2011 đạt kết quả cao hơn./.

 (Nguồn: Báo cáo 4/BC-UBND)

Lượt xem:  5,070

Ý kiến độc giả
{{NguoiGui}}   ()
gửi lúc {binding NgayGui, convert=dateConverter}
{{ HienThiNoiDung(NoiDung,TrangThai)}}
Chưa có bình luận nào của độc giả.