Chung tay thực hiện tốt việc chăm sóc, giúp đỡ nạn nhân chất độc da cam
Thứ hai, ngày 01/10/2018 | 03:58 PM (GMT +7)
Cuộc chiến tranh hóa học do Mỹ tiến hành ở Việt Nam là cuộc chiến tranh có quy mô lớn, dài ngày, gây hậu quả thảm khốc trong lịch sử nhân loại. Chiến tranh đã lùi xa hơn 40 năm, song hậu quả chất độc hóa học do Mỹ để lại đối với Việt Nam vẫn hết sức nặng nề, với 4,8 triệu người bị phơi nhiễm, hơn 3 triệu người là nạn nhân, nhiều nạn nhân thuộc thế hệ thứ hai và thứ ba. Vì vậy, việc nâng cao hiệu quả chăm sóc, giúp đỡ nạn nhân chất độc da cam/đi-ô-xin là lương tâm, trách nhiệm, đạo lý, tình cảm của cộng đồng và toàn xã hội.

Nạn nhân chất độc da cam (NNCĐDC) là người hoạt động kháng chiến giải phóng dân tộc, hầu hết là thương binh, bệnh binh, cựu chiến binh; hoàn cảnh kinh tế rất khó khăn, sức khỏe yếu, mức sống thấp so với mặt bằng chung của xã hội và địa phương nơi cư trú. Hàng vạn NNCĐDC ở Việt Nam đã tử vong; hàng trăm nghìn trẻ em sinh ra bị dị dạng, dị tật bẩm sinh, sống đời sống thực vật... Nhiều NNCĐDC hằng ngày phải đối mặt với các căn bệnh quái ác do nhiễm chất độc đi-ô-xin và hầu hết là người nghèo, chịu nhiều đau đớn cả về thể xác lẫn tinh thần, do vậy rất cần được sự quan tâm, chia sẻ, giúp đỡ của xã hội, cộng đồng.

Những năm qua, Đảng, Nhà nước đã ban hành nhiều văn bản lãnh đạo, chỉ đạo và quy định về chế độ, chính sách đối với người hoạt động kháng chiến bị nhiễm chất độc hóa học và con cháu của họ, tạo hành lang pháp lý và điều kiện thuận lợi để tổ chức thực hiện. Cấp ủy, chính quyền, Mặt trận Tổ quốc và đoàn thể các cấp quan tâm, có nhiều biện pháp, hành động thiết thực, phù hợp với điều kiện, hoàn cảnh của địa phương, đơn vị; tích cực triển khai chủ trương xã hội hóa công tác chăm sóc, giúp đỡ NNCĐDC. Phong trào “Hành động vì nạn nhân chất độc da cam” được nhân dân trong nước đồng tình hưởng ứng, đồng thời thu hút sự quan tâm ủng hộ của người Việt Nam ở nước ngoài và bạn bè quốc tế.

Ngày 17-12-2003, Hội Nạn nhân chất độc da cam/đi-ô-xin Việt Nam được thành lập; tiếp đó, tổ chức hội được thành lập ở các cấp tỉnh, huyện, xã. Các cấp hội đã có nhiều hoạt động thiết thực, làm nòng cốt trong việc bảo vệ, chăm sóc, giúp đỡ NNCĐDC. Đến nay, toàn hội đã vận động được hơn 1.418 tỷ đồng để chăm sóc và giúp đỡ NNCĐDC. Nguồn kinh phí này được tổ chức hội các cấp quản lý chặt chẽ, sử dụng đúng mục đích, công khai minh bạch, đã trực tiếp ủng hộ các nạn nhân bằng nhiều hình thức phù hợp, góp phần nâng cao đời sống vật chất và tinh thần cho nạn nhân, tạo điều kiện để họ vươn lên hòa nhập cộng đồng.

Tuy nhiên, do nhiều nguyên nhân, công tác chăm sóc, giúp đỡ NNCĐDC những năm qua còn nhiều khó khăn, bất cập. Hiện nay, vẫn còn nhiều hồ sơ tồn đọng của người nhiễm chất độc da cam chưa được cấp có thẩm quyền xem xét quyết định; hàng trăm nghìn người bị phơi nhiễm chưa được hưởng chế độ. Đặc biệt, thế hệ thứ ba của người bị phơi nhiễm, hầu hết bị dị dạng, dị tật bẩm sinh, sống thực vật, nhưng đối tượng này chỉ được hưởng chế độ bảo trợ xã hội, không có điều kiện để chăm sóc sức khỏe và nuôi dưỡng, trong khi họ thường xuyên phải có người chăm sóc, phục vụ, vì vậy cuộc sống của gia đình nạn nhân càng thêm khó khăn. Cùng với đó, một số vấn đề bất cập, vướng mắc từ chính sách, chế độ đối với NNCĐDC chưa được tháo gỡ, giải quyết kịp thời.

Để tiếp tục nâng cao hiệu quả công tác chăm sóc, giúp đỡ NNCĐDC, từng bước cải thiện đời sống vật chất và tinh thần, tạo điều kiện để họ ổn định cuộc sống, hòa nhập cộng đồng, trước hết cần tăng cường sự lãnh đạo, chỉ đạo của cấp ủy, chính quyền các cấp đối với công tác chăm sóc, giúp đỡ NNCĐDC; quán triệt và thực hiện tốt Chỉ thị số 43-CT/TW ngày 14-5-2015 của Ban Bí thư Trung ương Đảng, khóa XI “Về tăng cường sự lãnh đạo của Đảng đối với công tác giải quyết hậu quả chất độc hóa học do Mỹ sử dụng trong chiến tranh ở Việt Nam”. Cần xác định chăm sóc, giúp đỡ NNCĐDC là trách nhiệm của cấp ủy, chính quyền, các tổ chức, đoàn thể và cả hệ thống chính trị. Cùng với đó, tăng cường công tác kiểm tra, giám sát; tập trung giải quyết dứt điểm các vấn đề còn vướng mắc; không để xảy ra tiêu cực trong quá trình thực hiện. Cấp ủy, chính quyền các cấp thường xuyên quan tâm củng cố, kiện toàn tổ chức Hội Nạn nhân chất độc da cam/đi-ô-xin, đáp ứng yêu cầu, nhiệm vụ trong tình hình mới.

Các cấp có thẩm quyền cần đẩy mạnh cải cách hành chính, nghiên cứu, tổng kết, bổ sung, hoàn thiện hệ thống văn bản quy phạm pháp luật về ưu đãi người hoạt động kháng chiến bị nhiễm chất độc hóa học và con, cháu của họ; nhất là chính sách đối với NNCĐDC là thương binh và việc áp dụng mức tỷ lệ nhiễm chất độc hóa học; các quy định, tiêu chí xác định NNCĐDC và tiêu chí xác định bệnh tật do chất độc da cam/đi-ô-xin; quy trình xem xét, giám định nạn nhân chất độc da cam... Tiếp tục thể chế hóa các quan điểm, chủ trương của Đảng, trên cơ sở đó có biện pháp khắc phục những vướng mắc, bất cập, từng bước hoàn thiện hệ thống chính sách, tạo hành lang pháp lý trong tổ chức thực hiện, nhằm hỗ trợ tốt nhất về mọi mặt cho NNCĐDC, tạo điều kiện để họ có cuộc sống ổn định, hòa nhập với cộng đồng.

Tiếp tục đẩy mạnh tuyên truyền, vận động về công tác chăm sóc, giúp đỡ NNCĐDC, làm cho nhân dân trong nước, người Việt Nam ở nước ngoài và cộng đồng quốc tế hiểu rõ thảm họa chất độc hóa học do Mỹ sử dụng trong chiến tranh ở Việt Nam; những nỗi đau và mất mát mà NNCĐDC phải gánh chịu. Tiếp tục đấu tranh đòi công lý cho NNCĐDC và đẩy mạnh Phong trào thi đua “Hành động vì nạn nhân chất độc da cam”; tổ chức tốt các cuộc vận động hỗ trợ, giúp đỡ NNCĐDC, chung tay xoa dịu nỗi đau da cam ở Việt Nam.

Hội Nạn nhân chất độc da cam/đi-ô-xin các cấp cần phát huy hơn nữa vai trò nòng cốt của mình trong công tác chăm sóc, giúp đỡ NNCĐDC; đổi mới nội dung, phương thức hoạt động của hội, hướng về cơ sở, tích cực tuyên truyền, vận động, hướng dẫn, giúp đỡ NNCĐDC, nhất là các nạn nhân ở vùng sâu, vùng xa; tạo mọi điều kiện để họ tiếp cận và thụ hưởng chế độ, chính sách của Nhà nước theo quy định. Thực hiện linh hoạt các hình thức chăm sóc, giúp đỡ nạn nhân theo hướng cụ thể và thiết thực, phù hợp với hoàn cảnh cụ thể của từng người, từng gia đình; chú trọng hỗ trợ vốn sản xuất hộ gia đình. Quản lý chặt chẽ, sử dụng công khai, minh bạch và phát huy hiệu quả các nguồn lực vận động được; nâng cao hiệu quả, năng lực của các trung tâm bảo trợ xã hội NNCĐDC; thực hiện nuôi dưỡng lâu dài đối với nạn nhân không nơi nương tựa, nạn nhân đặc biệt khó khăn; nuôi dưỡng có thời hạn với nạn nhân sức khỏe yếu, kinh tế khó khăn, điều kiện chăm sóc sức khỏe hạn chế.

Đẩy mạnh thực hiện có hiệu quả chủ trương xã hội hóa công tác chăm sóc, giúp đỡ NNCĐDC. Các tổ chức hội cần nêu cao trách nhiệm, chủ động sáng tạo, linh hoạt trong công tác vận động nguồn lực của các tổ chức quốc tế, các nhà hảo tâm ở trong nước và ngoài nước ủng hộ vật chất, tinh thần cho NNCĐDC; phối hợp chặt chẽ với các cơ quan chức năng ở địa phương tổ chức dạy nghề, tạo việc làm cho các cháu có khả năng lao động sau học nghề; tổ chức tốt các hoạt động y tế (khám, chữa bệnh, xông hơi, thanh lọc, giải độc) cho NNCĐDC theo định kỳ. ..

Quan tâm chăm sóc, giúp đỡ thiết thực NNCĐDC là lương tâm, trách nhiệm của xã hội, là thực hiện đạo lý “uống nước nhớ nguồn”, "tương thân tương ái" của dân tộc Việt Nam, đồng thời góp phần thực hiện tốt chính sách hậu phương quân đội, xây dựng tiềm lực chính trị tinh thần, “thế trận lòng dân” trong sự nghiệp xây dựng và bảo vệ Tổ quốc Việt Nam XHCN trong tình hình mới.

Thượng tướngNGUYỄN VĂN RINH (Chủ tịch Hội Nạn nhân chất độc da cam/đi-ô-xin Việt Nam)

Lượt xem:  94

Tin đã đưa
.