Đề xuất giảm thuế TNDN cho doanh nghiệp nhỏ và vừa từ 20% xuống 15 – 17%
Thứ 5, ngày 02/05/2019 | 10:13 AM (GMT +7)
Bộ Tài chính vừa trình Chính phủ để trình Quốc hội giảm thuế suất thuế thu nhập doanh nghiệp (TNDN) đối với doanh nghiệp nhỏ và vừa (DNNVV) từ 20% như hiện nay xuống còn 15 - 17%. Đây là giải pháp hữu hiệu nhất nhằm hỗ trợ, phát triển doanh nghiệp (DN), đặc biệt là khuyến khích hộ, cá nhân kinh doanh chuyển lên DN, hướng tới mục tiêu vào năm 2010 cả nước có 1 triệu DN.

Hộ, cá nhân kinh doanh chuyển lên DN được miễn thuế TNDN 2 năm

Nghị quyết số 10-NQ/TW5 (khóa XII) xác định “phát triển kinh tế tư nhân trở thành động lực quan trọng của nền kinh tế thị trường định hướng xã hội chủ nghĩa”, tại Nghị quyết này cũng đặt ra mục tiêu, nhiệm vụ cụ thể nhằm hỗ trợ, phát triển DNNVV, chú trọng nâng cao chất lượng, hiệu quả kinh doanh; miễn, giảm thuế thu nhập doanh nghiệp, tiền sử dụng đất trong những năm đầu hoạt động, phấn đấu đến năm 2020 cả nước có ít nhất 1 triệu DN, đến năm 2025 có hơn 1,5 triệu DN và đến năm 2030 là 2 triệu DN.

Theo Bộ Tài chính thì hiện nay cả nước có hơn 600 nghìn DN, trong đó kinh tế tư nhân chiếm gần 500 nghìn DN và trong số này có tới hơn 96% là DN nhỏ và siêu nhỏ, 2% DN có quy mô vừa và 2% DN lớn. Lĩnh vực kinh tế tư nhân đã tạo ra khoảng 1,2 triệu việc làm, đóng góp hơn 40% tổng sản phẩm quốc nội (GDP) mỗi năm.

Theo Luật Hỗ trợ DNNVV (số 04/2017/QH14) có hiệu lực thi hành từ ngày 1.1.2018, tại Điều 10 quy định “DNNVV được áp dụng có thời hạn mức thuế suất thuế TNDN thấp hơn mức thuế suất thông thường áp dụng cho DN theo quy định của pháp luật về thuế TNDN”. Để các giải pháp hỗ trợ được khả thi, chính sách thuế là một trong những công cụ cần được xem xét áp dụng. Do vậy, Bộ Tài chính đã trình Chính phủ trình Quốc hội cho áp dụng một số chính sách ưu đãi về thuế TNDN nhằm tăng cường thúc đẩy phát triển DN và mở rộng sản xuất kinh doanh. Theo đó, dự thảo nghị quyết đề xuất DN nhỏ và vừa được giảm thuế suất thuế TNDN từ 20% hiện nay xuống còn 15 – 17%.

Đặc biệt, để tạo động lực mạnh mẽ khuyến khích hộ, cá nhân kinh doanh chuyển lên DN, cần tập trung ưu tiên để đạt mục tiêu 1 triệu DN vào năm 2020, Bộ Tài chính đề xuất thực hiện: “Miễn thuế TNDN trong 2 năm kể từ khi có thu nhập chịu thuế đối với DN thành lập mới từ hộ, cá nhân kinh doanh” và sau thời gian miễn thuế này, DN thành lập từ hộ, cá nhân kinh doanh thực hiện dự án đầu tư thuộc ngành nghề, địa bàn ưu đãi thuế, thì tiếp tục được hưởng mức ưu đãi tương ứng theo quy định của pháp luật về thuế TNDN. Hết thời gian miễn thuế và thời gian ưu đãi thuế, DN thực hiện mức thuế suất thuế TNDN tương ứng với điều kiện thực tế.

Căn cứ doanh thu, số lượng lao động để xác định thuế suất ưu đãi 15% hay 17%

Theo Bộ Tài chính để đảm bảo đúng mục tiêu, đúng đối tượng cần hỗ trợ để đạt được lợi ích kinh tế - xã hội cao nhất nhưng không làm ảnh hưởng lớn đến nguồn thu ngân sách nhà nước, dự thảo nghị quyết quy định 2 mức ưu đãi giảm thuế, cụ thể: Thuế suất 15% áp dụng đối với DN có tổng doanh thu năm dưới 3 tỷ đồng và có số lao động tham gia bảo hiểm xã hội bình quân năm không quá 10 người; thuế suất 17% áp dụng đối với DN có tổng doanh thu năm từ 3 tỷ đồng đến dưới 50 tỷ đồng và có số lao động tham gia bảo hiểm xã hội bình quân năm không quá 100 người. Doanh thu làm căn cứ xác định DN thuộc diện được áp dụng thuế suất 15% và 17% là tổng doanh thu của năm trước liền kề.

Trường hợp DN có doanh thu năm dưới 3 tỷ đồng và số lao động tham gia bảo hiểm xã hội bình quân năm không quá 10 người (DN siêu nhỏ) xác định được doanh thu nhưng không xác định được chí phí, thu nhập của hoạt động kinh doanh thì kê khai nộp thuế TNDN theo tỷ lệ trên doanh thu bán hàng hóa, dịch vụ như sau: Phân phối, cung cấp hàng hóa 0,4%; sản xuất, vận tải, dịch vụ có gắn với hàng hóa, xây dựng có bao thầu nguyên vật liệu 1,2%; dịch vụ, xây dựng không bao thầu nguyên vật liệu 1,5% (riêng hoạt động cho thuê tài sản, đại lý bảo hiểm, đại lý xổ số, đại lý bán hàng đa cấp 4%); hoạt động khác 0,8%. Các trường hợp nộp thuế theo tỷ lệ (%) trên doanh thu không phải quyết toán thuế khi phá sản, giải thể.

Đồng thời, Bộ Tài chính đề xuất, trong bối cảnh kinh tế - xã hội và thu ngân sách như hiện nay thì việc xác định đối tượng DN để đề xuất giải pháp hỗ trợ cần phải dựa trên nguyên tắc: hỗ trợ đúng, trúng đối tượng nhằm đạt được lợi ích kinh tế - xã hội cao, nhưng không làm ảnh hưởng lớn đến nguồn thu ngân sách nhà nước, tránh tình trạng ưu đãi dàn trải, lợi dụng chính sách ưu đãi làm giảm hiệu quả hỗ trợ, khuyến khích DN phát triển, nên Bộ Tài chính trình Chính phủ quy định rõ tại nghị quyết nội dung không áp dụng các chính sách ưu đãi về thuế TNDN đối với các trường hợp sau:

Công ty con hoặc công ty có quan hệ liên kết mà DN trong quan hệ liên kết không phải là DN thuộc đối tượng quy định tại nghị quyết này; thu nhập từ chuyển nhượng vốn, chuyển nhượng góp vốn; thu nhập từ chuyển nhượng bất động sản (trừ nhà ở xã hội theo Luật thuế TNDN), thu nhập từ chuyển nhượng dự án đầu tư, chuyển nhượng quyền tham gia dự án đầu tư, chuyển nhượng quyền thăm dò, khai thác khoáng sản; thu nhập nhận được từ hoạt động sản xuất, kinh doanh ở ngoài Việt Nam; thu nhập từ hoạt động tìm kiếm, thăm dò, khai thác dầu, khí, tài nguyên quý hiếm khác và thu nhập từ hoạt động khai thác khoáng sản; thu nhập từ kinh doanh hàng hóa, dịch vụ thuộc diện chịu thuế tiêu thụ đặc biệt.

Bộ tài chính cũng cho biết, tác động của chính sách ưu đãi thuế TNDN cho DNNVV có thể làm giảm thu NSNN khoảng 9.200 tỷ đồng/năm trong ngắn hạn, nhưng về lâu dài sẽ có nhiều DN thành lập mới, tạo điều kiện để DN nhỏ và siêu nhỏ tăng tích tụ, tích lũy, tái đầu tư phát triển sản xuất, kinh doanh, từ đó góp phần tăng thu cho NSNN. Dự kiến dự thảo nghị quyết này trình Ủy ban Thường vụ Quốc hội vào kỳ họp thứ 5 và trình ra Quốc hội tại kỳ họp tháng 10/2019, nếu được thông qua sẽ có hiệu lực thi hành từ ngày 01/01/2020./.

Văn Dũng

Lượt xem:  96

Tin đã đưa
Xem theo ngày :