Phát triển kinh tế lòng hồ thủy điện và ổn định đời sống sản xuất cho người dân tái định cư
Thứ 6, ngày 09/08/2019 | 02:22 PM (GMT +7)
Sáng ngày 9/8, UBND tỉnh tổ chức hội nghị bàn giải pháp phát triển kinh tế lòng hồ thủy điện và ổn định đời sống sản xuất cho người dân tái định các dự án thủy điện trên địa bàn tỉnh Quảng Nam. Phó Chủ tịch UBND tỉnh Lê Trí Thanh chủ trì hội nghị.

Phó Chủ tịch UBND tỉnh Lê Trí Thanh phát biểu chỉ đạo tại hội nghị.

Phát biểu khai mạc hội nghị, Phó Chủ tịch UBND tỉnh Lê Trí Thanh cho biết: Quảng Nam là một trong những địa phương có nhiều dự án thủy điện; làm thế nào để vừa khai thác đa dạng, tối ưu hóa lòng hồ thủy điện vừa đảm bảo an toàn cho vận hành thủy điện; giải quyết vấn đề tái định cư của người dân bị ảnh hưởng bởi các dự án thủy điện...là những vấn đề luôn được UBND tỉnh quan tâm. Đồng chí Lê Trí Thanh mong muốn qua hội nghị lần này, với những kiến nghị về giải pháp, chia sẻ kinh nghiệm của các đơn vị, địa phương liên quan để giải quyết những vấn đề nêu trên. Đồng thời xác định trách nhiệm của các cơ quan, đơn vị, địa phương liên quan trong việc tháo gỡ khó khăn về hạ tầng, việc làm, đất sản xuất...đảm bảo đời sống ổn định, có điều kiện thuận lợi để thoát nghèo, gìn giữ bản sắc văn hóa của đồng bào bị ảnh hưởng bởi các dự án thủy điện.

Theo báo cáo tại hội nghị, hiện nay, trên địa bàn tỉnh đã triển khai 25/46 dự án thủy điện theo quy hoạch. Bao gồm 10 dự án thủy điện bậc thang với tổng công suất 1.156MW, điện lượng bình quân 4.347,85 triệu kWh/năm và 36 dự án thủy điện vừa và nhỏ với tổng công suất 584,86MW, điện lượng bình quân 2.157,94 triệu kWh/năm.

Ngoài việc vận hành phát điện theo chức năng quy định, người dân sống ven lòng hồ, trong đó có người dân tái định cư các dự án thủy điện đã khai thác mặt nước để nuôi trồng thủy sản lồng/bè. Hiện nay, có 23 hộ dân đang thả nuôi cá lồng thương phẩm ở lòng hồ thủy điện, với tổng 240 lồng nuôi. Các hộ dân đang thả nuôi thủy sản chủ yếu là các điêu hồng và các loại cá khác như: cá lăng, thác lát, cá trê, cá trắm, cá chình...Sản lượng thu hoạch khoảng 450-550 tấn/năm. Lợi nhuận thu được bằng khoảng 20-30% chi phí đầu tư. Nhìn chung, nuôi trồng thủy sản ở lòng hồ thủy điện trong thời gian qua có chiều hướng phát triển, góp phần cải thiện thu nhập, ổn định, nâng cao chất lượng cuộc sống của người dân sinh sống xung quanh lòng hồ. Tuy nhiên, sự phát triển vẫn chưa tương xứng với tiềm năng, lợi thế của vùng, còn mang tính tự phát, nhỏ lẻ, chưa đa dạng đối tượng nuôi, đầu ra sản phẩm còn gặp nhiều khó khăn, hạ tầng giao thông chưa đáp ứng yêu cầu...

Bên cạnh đó, thời gian qua, tỉnh cũng đã quan tâm, chỉ đạo và ban hành nhiều chủ trương phát huy tiềm năng, lợi thế phát triển du lịch miền núi, ưu tiên phát triển các sản phẩm du lịch lòng hồ thủy điện góp phần ổn định đời sống, sản xuất cho người dân tái định cư thủy điện. Tuy nhiên, du lịch lòng hồ thủy điện vẫn chưa phát triển so với tiềm năng, lợi thế, còn thiếu sự gắn kết giữa chủ thể quản lý với địa phương, người dân.

Về công tác tái định cư, trong số 25 dự án thủy điện đã xây dựng, vận hành và phát điện và đang thi công xây dựng, có 10 dự án thủy điện có di dân, tái định cư; trong 10 dự án đã hoàn thành công tác di dân, tái định cư và 01 dự án đang thực hiện bồi thường, hỗ trợ tái định cư. Nhìn chung, cơ sở hạ tầng thiết yếu tại các khu, điểm tái định cư được đầu tư xây dựng, tạo điều kiện thuận lợi cho người dân đi lại, sản xuất. Tuy nhiên, vẫn còn những tồn tại, hạn chế như: Đất sản xuất xấu, có độ dốc lớn, dễ rửa trôi, sạt lở, cho năng suất thấp. Sản xuất nông, lâm, thủy sản nhỏ lẻ, manh mún; việc xây dựng các mô hình và áp dụng kỹ thuật tiến bộ trong sản xuất còn hạn chế; việc đào tạo nghề, chuyển đổi nghề gặp nhiều khó khăn; công nghiệp, tiểu thủ công nghiệp, thương mại và dịch vụ còn nghèo nàn, chưa phát triển...Mặt khác, cơ sở hạ tầng tại các khu tái định cư đa phần nhanh xuống cấp, hư hỏng...

Tại hội nghị, các đại biểu đã có nhiều kiến nghị, đề xuất các giải pháp như: Tiếp tục hỗ trợ, ưu tiên cho người dân vùng lân cận, dân tái định cư thủy điện ứng dụng các mô hình phát triển nuôi cá lồng bè. Phát triển đồng thời các dịch vụ đi kèm như cung cấp con giồng, thức ăn...Hình thành các tổ hợp tác, HTX nuôi cá lồng bè để nâng cao sức cạnh tranh trên thị trường. Đẩy mạnh thu hút đầu tư và tạo các mô hình liên kết sản xuất, tiêu thụ theo chuỗi giá trị. Xây dựng và phát triển đa dạng hóa các sản phẩm du lịch. Tập trung nguồn lực cho chính sách di dời, sắp xếp dân cư gắn với hỗ trợ để phát phát triển sản xuất, nâng cao thu nhập...

Thúy Hằng

Lượt xem:  158

Tin đã đưa
Xem theo ngày :