uct
Tình hình KTXH năm 2012
Tình hình KTXH năm 2012
Thứ 4, ngày 05/12/2012 | 04:11 PM (GMT +7)
Tình hình KTXH năm 2012 và nhiệm vụ kế hoạch năm 2013

Phần thứ nhất

TÌNH HÌNH THỰC HIỆN NHIỆM VỤ

PHÁT TRIỂN KINH TẾ - XÃ HỘI NĂM 2012

Thực hiện nhiệm vụ năm 2012 trong bối cảnh kinh tế thế giới biến động phức tạp và khó khăn. Trong nước, việc thắt chặt tài khóa và tiền tệ để kiềm chế lạm phát là cần thiết nhưng hệ quả là cầu nội địa giảm mạnh, hàng tồn kho lớn; doanh nghiệp khó tiếp cận và hấp thụ vốn, sản xuất khó khăn.

Bối cảnh trên đặt ra những thách thức lớn trong điều hành kế hoạch phát triển kinh tế - xã hội năm 2012. Trên cơ sở kết quả 11 tháng đầu năm 2012 và ước cả năm 2012, tình hình thực hiện nhiệm vụ phát triển kinh tế, xã hội trên các nội dung chủ yếu như sau:

1. Thực hiện tốt mục tiêu ổn định kinh tế, tháo gỡ khó khăn cho sản xuất kinh doanh và góp phần kiềm chế lạm phát

Cùng với cả nước, lạm phát bước đầu đã được kiểm soát. Chỉ số giá tiêu dùng tháng 11 tăng gần 7,4% so với tháng 12 năm trước; ước năm 2012 tăng 7,6% so với tháng 12 năm trước, góp phần  đảm bảo theo mục tiêu chung của cả nước dưới 8%.

So với đầu năm, lãi suất cho vay đã giảm. Huy động tiền gửi hơn 14.000 tỷ đồng, tăng hơn 23% so với đầu năm. Tổng dư nợ cho vay 22.800 tỷ đồng, tăng gần 11%. Khắc phục một bước tình trạng sử dụng ngoại tệ, vàng để làm phương tiện thanh toán ở trong nước. Thực hiện tốt các hoạt động thanh toán không dùng tiền mặt; huy động vốn; dư nợ tín dụng tăng; đảm bảo tỷ trọng dư nợ tín dụng cho vay 4 nhóm lĩnh vực: Nông nghiệp nông thôn, xuất khẩu, doanh nghiệp nhỏ và vừa và công nghiệp hỗ trợ theo tinh thần Nghị Quyết 13 của Chính phủ với lãi suất cho vay từ 10-13%/năm.

Đã tập trung cho vay  trên lĩnh vực sản xuất, phát triển nông nghiệp và nông thôn, cho vay để thực hiện an sinh xã hội thuộc các chương trình cho vay học sinh sinh viên, cho vay hộ nghèo, giải quyết việc làm, xuất khẩu lao động. Chỉ gần 1,5% cho vay lĩnh vực không khuyến khích như bất động sản và tiêu dùng. Trong những tháng cuối năm, tình hình nợ xấu có xu hướng tăng, tỷ lệ nợ xấu hơn 6,4% tổng dư nợ, tăng cao so với đầu năm. Đã lập phương án, tích cực giải quyết nợ xấu.

Thu nội địa đạt 3.650 tỷ đồng, bằng gần 76%, thu xuất nhập khẩu gần 41% so với dự toán. Hụt thu nội địa khoảng 1.150 tỷ đồng, trong đó 900 tỷ đồng thuế các loại và 250 tỷ đồng tiền sử dụng đất. Tổng chi ngân sách địa phương 13.535 tỷ đồng, trong đó chi thường xuyên hơn 6.000 tỷ đồng, tăng 12% so với dự toán. Chi đầu tư phát triển gần 2.600 tỷ đồng, tăng 21%; tăng cao so với dự toán là do đã chuyển nguồn từ năm 2011 trở về trước sang năm 2012, đồng thời nguồn vốn bổ sung có mục tiêu, trái phiếu Chính phủ và chương trình mục tiêu quốc gia đầu năm chưa giao, đến quí I và quí II mới giao chỉ tiêu và đã giải ngân, nên tổng chi chiếm tỷ lệ cao so với dự toán đầu năm.

Huy động nguồn vốn đầu tư phát triển hơn 13.700 tỷ đồng, chiếm hơn 35% so với GDP của tỉnh (năm 2011 chiếm 40%), bằng gần 95% kế hoạch, tăng 7,4% so với năm 2011, trong đó vốn ngân sách nhà nước chiếm hơn 74% (tỉnh quản lý chiếm 42%); vốn ngoài nhà nước chiếm 19%; đầu tư trực tiếp nước ngoài chiếm 7%. Trong năm, Trung ương đã bổ sung vốn đầu tư phát triển năm 2012 và tạm ứng ngân sách năm 2013 tổng số 739 tỷ đồng để thúc đẩy tiến độ các công trình.  Nhiều công trình quan trọng đã được khởi công xây dựng, đóng góp vào phát triển chung của tỉnh như: Cầu Kỳ Phú 1 và 2, Nhà máy sản xuất nước uống Number one; Nhà máy sản xuất động cơ ô tô Hyundai; tổ chức kiểm tra, nâng cấp, sửa một số tuyến ĐT xuống cấp; nâng cấp Khu lưu niệm đồng chí Võ Chí Công, Bảo tàng tỉnh, Trung tâm báo chí. Thúc đẩy các dự án ven biển, các dự án do Trung ương đầu tư trên địa bàn; tiếp tục giải quyết tồn đọng, vướng mắc về dự án thủy điện Sông Tranh 2. Bên cạnh đó, đã khánh thành đưa vào sử dụng các công trình qui mô lớn như thủy điện Đăkmi 4, Cầu cảng số 1 Tam Hiệp, Nhà máy thu gom xử lý nước thải Khu kinh tế mở Chu Lai, Nhà máy chế biến mủ cao su giai đoạn I, Bệnh viện Đa khoa Trung ương giai đoạn I.

Thúc đẩy tiến độ thực hiện các công trình, dự án; tiếp tục rà soát điều chuyển các nguồn vốn để đảm bảo giải ngân hết các nguồn vốn trong năm (đến 23/11/2012 đã giải ngân 74% kế hoạch vốn). Tăng cường kiểm soát chi, không thanh toán hơn 58 tỷ đồng, trong đó 28 tỷ đồng do các đơn vị đề nghị mua sắm thiết bị văn phòng không đúng qui định và 30 tỷ đồng từ vốn đầu tư xây dựng cơ bản do các chủ đầu tư để tạm ứng kéo dài, hồ sơ đề nghị thanh không đảm bảo yêu cầu.

Tổng số tăng vốn và cấp mới các dự án FDI năm 2012 hơn 45,5 triệu USD, trong đó cấp mới 09 dự án với tổng vốn đăng ký hơn 22,8 triệu USD, đồng thời thu hồi 02 dự án không thực hiện đúng cam kết. Các doanh nghiệp FDI đang hoạt động đã đóng góp nghĩa vụ thuế năm 2012 hơn 550 tỷ đồng. Trên địa bàn đang triển khai thực hiện 17 dự án ODA, dự kiến năm 2012 giải ngân 542 tỷ đồng, đồng thời hoàn chỉnh các thủ tục cần thiết để triển khai dự án OFID, ADB, WB về phát triển kết cấu hạ tầng huyện Phú Ninh; phát triển các đô thị loại 2 và thu gom xử lý nước thải, rác thải thành phố Tam Kỳ với tổng mức hơn 60 triệu USD. Tiếp nhận 77 chương trình, dự án của các tổ chức phi Chính phủ nước ngoài tài trợ với tổng số tiền viện trợ hơn 200 tỷ đồng, tăng gần 5% so với năm 2011; giá trị giải ngân hơn 80 tỷ đồng, tăng 10%.

Thực hiện tốt Nghị Quyết 13 của Chính phủ về  tháo gỡ khó khăn cho sản xuất kinh doanh, hỗ trợ thị trường, theo đó có hơn 1.000 doanh nghiệp được gia hạn nộp thuế giá trị gia tăng, thuế thu nhập doanh nghiệp; gia hạn tiền sử dụng đất; giảm tiền thuê đất; gần 1.700 hộ được miễn, giảm thuế môn bài đối với hộ đánh bắt hải sản.

2. Trong điều kiện khó khăn, mục tiêu tăng trưởng kinh tế và sản xuất kinh doanh vẫn duy trì và phát triển ổn định

Qua kết quả điều tra sơ bộ chỉ có hơn 2.700 doanh nghiệp đang hoạt động trong tổng số hơn 5.500 doanh nghiệp trong nước đăng ký; số còn lại là đăng ký nhưng chưa hoạt động, tạm ngừng hoạt động, không tìm thấy và giải thể. Chỉ có 70 doanh nghiệp có đăng ký thủ tục giải thể trong hai năm qua (2011-2012). Riêng năm 2012 đăng ký cấp mới 490 doanh nghiệp. Đã có hơn 1.660 doanh nghiệp, chiếm 61% số doanh nghiệp đang hoạt động có quan hệ tín dụng với ngân hàng, với tổng dư nợ gần 16.300 tỷ đồng, chiếm 72% trong tổng dư nợ cho vay nền kinh tế, đây là dấu hiệu tích cực để cải thiện và thúc đẩy phát triển sản xuất kinh doanh.

Tốc độ tăng giá trị công nghiệp những tháng cuối năm cao hơn so với những tháng đầu năm đạt 14.765 tỷ đồng (giá cố định 1994), chiếm 97,6% kế hoạch năm, tăng 17,3% so với năm 2011, tuy nhiên tốc độ này thấp hơn mức tăng của năm 2011 (năm 2011/2010 tăng hơn 24%). Mức tăng của giá trị sản xuất công nghiệp có đóng góp tích cực từ khu vực kinh tế có vốn đầu tư nước ngoài, tăng hơn 50%. Sản phẩm chiếm tỷ trọng lớn, có giá trị tăng cao là sản xuất da và các sản phẩm từ da tăng gần 67%, riêng giày da Rieker tăng gấp 2 lần. Bên cạnh đó, ngành sản xuất lắp ráp ô tô, giá trị giảm 30% so với năm 2011. Chỉ số tồn kho những tháng cuối năm tuy có giảm, nhưng một số sản phẩm chủ lực của tỉnh có chỉ số tồn kho tăng cao như: Gạch men, kính nổi, cồn ethanol, yến sào, sản phẩm xe du lịch KIA và Mazda.

Khu vực dịch vụ tăng trưởng khá. Tổng mức bán lẻ hàng hoá và dịch vụ tăng trên 28%, nếu loại trừ yếu tố giá, tăng trên 18%. Tổng lượt khách tham quan, lưu trú 2,8 triệu lượt, vượt 02% kế hoạch, tăng gần 13% so với cùng kỳ. Trong đó khách quốc tế 1,47 triệu lượt, tăng hơn 14%. Xuất khẩu 495 triệu USD, vượt 25% so với chỉ tiêu kế hoạch, tăng 17,5% so với năm 2011, chủ yếu là tăng ở mặt hàng giày da và vàng. Nhập khẩu 475 triệu USD, giảm hơn 28%, chủ yếu là giảm ở mặt hàng linh kiện ô tô, nguyên liệu may mặc. Khối lượng vận chuyển hàng hoá qua cảng giảm 35%. Bưu chính viễn thông tiếp tục phát triển mạnh. Tổng giá trị sản xuất ngành dịch vụ 10.528 tỷ đồng, gần bằng chỉ tiêu về giá trị của kế hoạch đề ra.

Trong sản xuất của ngành nông lâm thuỷ sản, mặc dù giá cả lương thực có giảm nhưng nhờ sản lượng tăng cao, nên giá trị sản xuất riêng ngành nông nghiệp tăng 6,7%. Bên cạnh đó sản lượng thuỷ sản năm 2012 cũng tăng khá, giá cả ổn định nên ngành thuỷ sản tăng hơn 8%; ngành lâm nghiệp tăng hơn 5%; tính chung giá trị sản xuất toàn ngành nông lâm thuỷ sản gần 3.100 tỷ đồng, tăng gần 7% so với năm 2011. Sản xuất nông nghiệp được mùa, sản lượng tăng cao nhất từ trước đến nay, tổng sản lượng lương thực trên 500.000 tấn, vượt trên 3,5% kế hoạch năm, tăng trên 32.000 tấn (6,8%) so với năm 2011, trong đó lúa trên 447.000 tấn, tăng 29.000 tấn (7%). Dịch bệnh trên đàn gia súc, gia cầm có tái phát, nhưng nhờ thực hiện các biện pháp ngăn chặn lây lan, giải vây dịch, đồng thời tiến hành tiêm vắc xin phòng bệnh cho đàn vật nuôi trên những vùng có nguy cơ lây lan cao, cũng như rà soát, sắp xếp lại các cơ sở giết mổ, nên tốc độ lây lan dịch bệnh chậm, tình hình dịch bệnh được kiểm soát chủ động hơn so với các năm trước. Sản lượng nuôi trồng và khai thác thuỷ sản trên 82.000 tấn, tăng 8,6%; trong đó sản lượng nuôi trồng hơn 18.700 tấn, tăng 26,5%. Sản lượng gỗ khai thác trên 210.000 m3, tăng 5%; trồng mới 1.200 ha, nâng diện tích cây cao su hiện có trên 9.200 ha, trong đó đang khai thác mủ trên 2.270 ha, sản lượng mủ ước đạt trên 2.500 tấn.

Tăng trưởng kinh tế (GDP) toàn tỉnh 11,2%, thấp hơn kế hoạch đề ra (kế hoạch 12,5%) nhưng 6 tháng cuối năm tăng cao hơn 6 tháng đầu năm (6 tháng đầu năm tăng 10,6%); cùng với cả nước lạm phát được kiềm chế, kinh tế ổn định là những dấu hiệu tích cực để phát triển bền vững hơn trong thời gian tới.

Cơ cấu kinh tế tiếp tục chuyển dịch theo hướng tăng tỷ trọng công nghiệp xây dựng và dịch vụ, giảm dần tỷ trọng ngành nông lâm ngư nghiệp. Tuy nhiên do năm 2012 công nghiệp có tốc độ tăng thấp, nông nghiệp tăng cao, nên tốc độ chuyển dịch cơ cấu kinh tế có chậm lại, đã chuyển dịch 1,2% cơ cấu ngành nông lâm ngư nghiệp sang cho công nghiệp xây dựng và dịch vụ. Cụ thể là cơ cấu ngành nông lâm ngư nghiệp từ 21,4% năm 2011 xuống gần 20,2% năm 2012; công nghiệp xây dựng tăng từ 40,25% lên 40,9%; dịch vụ tăng từ 38,3% lên 38,9%.  

3. Bảo đảm an sinh xã hội, giải quyết các vấn đề xã hội bức xúc

Trong điều kiện kinh tế khó khăn, giá cả một số mặt hàng tăng, dịch bệnh tiềm ẩn các rủi ro khó lường, UBND tỉnh đã tập trung chỉ đạo bảo đảm an sinh xã hội. Cùng với việc ưu tiên nguồn lực để thực hiện các chương trình mục tiêu, trọng tâm là hỗ trợ giảm nhanh tỷ lệ hộ nghèo; tạo việc làm gắn với đào tạo nghề; trợ giúp xã hội, chính sách đối với người có công. Trong điều kiện ngân sách hạn hẹp, nhưng chi ngân sách nhà nước cho sự nghiệp giáo dục đào tạo và dạy nghề tăng trên 12%, chi sự nghiệp y tế tăng 22%; chi đảm bảo xã hội tăng 36% so với dự toán; dư nợ ưu đãi thực hiện chính sách xã hội chiếm 12% trong tổng dư nợ cho vay. Chương trình hỗ trợ xây nhà ở cho người nghèo, nhà ở sinh viên đạt những kết quả tích cực.

Công tác bảo vệ, chăm sóc sức khỏe nhân dân, dân số, kế hoạch hóa gia đình, bảo vệ và chăm sóc trẻ em, bình đẳng giới đã có nhiều cố gắng và đã cơ bản hoàn thành các chỉ tiêu HĐND tỉnh đề ra. Các hoạt động y tế dự phòng được tích cực triển khai, nhất là phòng chống dịch bệnh, đẩy mạnh thực hiện chương trình tiêm chủng mở rộng; tăng cường quản lý chất lượng, kiểm soát vệ sinh an toàn thực phẩm; không để dịch lớn xảy ra. Đã tích cực thực hiện các giải pháp nâng cao chất lượng khám, chữa bệnh cho nhân dân. Hệ thống y tế cơ sở tiếp tục được củng cố và phát triển. Việc đầu tư xây dựng, nâng cấp mạng lưới bệnh viện tiếp tục được triển khai. Đẩy mạnh xã hội hóa trong y tế, khuyến khích phát triển các cơ sở y tế ngoài công lập. Tỷ lệ giường bệnh/vạn dân từ 19,5 gường năm 2011 lên 21,3 giường năm 2012. Toàn tỉnh có hơn 1.000 trường hợp mắc bệnh tay chân miệng; hơn 150 trường hợp mắc bệnh sốt xuất huyết; một số trường hợp mắc bệnh thương hàn và viêm não vi rút nhưng được điều trị kịp thời, không có trường hợp tử vong. Đã cấp hơn 430.000 thẻ bảo hiểm y tế cho người nghèo và cận nghèo với tổng kinh phí gần 200 tỷ đồng.

Năm học 2011-2012 toàn tỉnh có 765 trường học, tăng 06 trường so với năm học trước. Tập trung xây dựng trường chuẩn quốc gia. Tỷ lệ học sinh đỗ đại học theo nguyện vọng I gần 18%, đỗ cao đẳng gần 11%, thấp hơn 3% so với năm học trước. Đề án kiên cố hoá trường lớp học và nhà công vụ giai đoạn 2008-2012 với 1.490 phòng học và 472 nhà công vụ, tổng nguồn vốn đã cân đối qua các năm hơn 226 tỷ đồng; đã hoàn thành 1.425 phòng học; 344 nhà công vụ, tỷ lệ hoàn thành gần 96% số phòng và 73% số nhà.

Thúc đẩy triển khai chương trình dạy nghề, nhất là cho lao động nông thôn đẩy mạnh đào tạo theo nhu cầu xã hội. Mặc dù gặp khó khăn nhưng đã giải quyết 38.000 lao động mới, bằng 97% chỉ tiêu đề ra.  Thực hiện chế độ bảo hiểm thất nghiệp trên 5.000 lao động. Cơ cấu lao động phi nông nghiệp chiếm gần 44%.

Qua các năm đã xuất khẩu hơn 2.700 lao động, trong đó có 670 lao động thuộc các huyện nghèo của tỉnh theo Nghị Quyết 30a. Riêng năm 2012 toàn tỉnh xuất khẩu 120 lao động. Tăng cường quản lý nguồn vốn Quỹ quốc gia giải quyết việc làm, đã giải ngân 1.200 dự án vay vốn với tổng số tiền 31 tỷ đồng, giải quyết việc làm cho 2.000 lao động.

Đã hoàn thành chương trình nhà ở cho người nghèo. Trong đó, năm 2012, phấn đấu hoàn thành hơn 3.500 nhà, nâng tổng số nhà hoàn thành theo đề án qua 4 năm (2009-2012) lên 18.014 nhà, bằng 100% theo kế hoạch. Hoàn thành xây mới 847 nhà, sửa chữa hơn 1.300 nhà theo chương trình hỗ trợ nhà ở cho người có công trong năm 2012. Xác nhận và thực hiện chế độ cho gần 12.000 trường hợp về giải quyết các chế độ người có công, các đối tượng chính sách. Thẩm định và giới thiệu 1.400 hồ sơ (tồn đọng) đề nghị được hưởng chế độ đối với người hoạt động kháng chiến và con đẻ của họ bị nhiễm chất độc hóa học.

Văn hóa, thông tin, thể thao tiếp tục phát triển. Đã tập trung tuyên truyền về các sự kiện chính trị xã hội quan trọng của đất nước, của tỉnh; đặc biệt là kỷ niệm 15 năm tái lập tỉnh (1997-2012) và đón nhận Huân chương Hồ Chí Minh, kỷ niệm 100 năm ngày sinh Chủ tịch Hội đồng nhà nước Võ Chí Công. Toàn tỉnh có hơn 80% hộ gia đình văn hóa; 59 huy chương các loại về thể thao thành tích cao.

4. Kinh tế - xã hội nông thôn, miền núi, chương trình nông thôn mới tiếp tục được thực hiện, đạt một số kết quả trên các lĩnh vực.

Tiếp tục triển khai thực hiện 14 chương trình mục tiêu quốc gia năm 2012 với tổng kinh phí gần 300 tỷ đồng, chủ yếu tập trung cho giảm nghèo, dạy nghề và việc làm, văn hoá, giáo dục và đào tạo, xây dựng nông thôn mới.

Dự kiến giảm tỷ lệ hộ nghèo xuống còn khoảng 17,5% (giảm 3,4% so với năm trước); hộ cận nghèo 12,5%. Như vậy, vượt mục tiêu toàn tỉnh phấn đấu giảm tỷ lệ hộ nghèo bình quân từ 2,5 đến 3%/năm. Riêng các huyện nghèo, xã nghèo giảm bình quân 4%; giảm 10 xã nghèo từ 115 xã năm 2011 xuống còn 105 xã cuối năm 2012.

Nguồn vốn thực hiện chương trình Nghị quyết 30a đã được lồng ghép với các nguồn vốn khác trên địa bàn 04 huyện nghèo của tỉnh như chương trình 135 giai đoạn 2, chương trình kiên cố hóa trường học, các công trình giao thông, thủy lợi, điện và các chương trình hỗ trợ người nghèo. Qua 04 năm thực hiện, nguồn vốn chương trình 30a đã được cân đối hơn 381 tỷ đồng cho đầu tư phát triển. Nguồn vốn trên chủ yếu thực hiện hỗ trợ sản xuất, giáo dục dạy nghề, tạo việc làm, tăng thu nhập, nâng cao dân trí và đầu tư phát triển kết cấu hạ tầng nông thôn, riêng năm 2012 đã cân đối 127,5 tỷ đồng được phân bổ cho 130 công trình, dự án tại các 04 huyện nghèo. Bên cạnh đó, đã phân bổ hơn 140 tỷ đồng cho 120 công trình nhằm phát triển kết cấu hạ tầng, hỗ trợ sản xuất tại 77 xã thuộc chương trình các xã bãi ngang ven biển và các xã đặc biệt khó khăn của tỉnh.

Qua hai năm thực hiện, các địa phương cơ bản hoàn thành việc khảo sát, đánh giá thực trạng nông thôn và xây dựng đề án nông thôn mới. Trong đó có 200/213 xã lập đề án xây dựng xã nông thôn mới; 165/213 xã triển khai lập qui hoạch; 74 xã triển khai phương án phát triển sản xuất với 84 mô hình đang triển khai, tổng nguồn vốn qua hai năm thực hiện hơn 140 tỷ đồng, cùng với chương trình đào tạo nghề cho lao động nông thôn, từng bước đáp ứng yêu cầu nguồn nhân lực để xây dựng nông thôn mới.

Huy động và hỗ trợ các địa phương 77,5 tỷ đồng để tiếp tục thực hiện đề án phát triển giao thông nông thôn. Do ảnh hưởng của lạm phát, đơn giá xây dựng tăng, UBND tỉnh đã bổ sung thêm nguồn vốn cho các địa phương nhằm đảm bảo hoàn thành 260 km đường trong năm 2012. Qua gần 03 năm thực hiện đề án, đã hoàn thành 857 km đường, hơn 1.300 cống các loại, chiếm tỷ lệ 58% theo đề án. Tổng nguồn vốn huy động cho chương trình hơn 466 tỷ đồng, trong đó ngân sách tỉnh đã cân đối hơn 214 tỷ đồng, cùng với nguồn vốn ngân sách cấp huyện và đóng góp của nhân dân, phn đấu đến năm 2015 hoàn thành mục tiêu đề ra theo Nghị Quyết của HĐND tỉnh.

5. Hoạt động khoa học, công nghệ đạt một số kết quả; công tác bảo vệ môi trường được cải thiện.

Kết quả nghiên cứu, ứng dụng khoa học công nghệ được nhân rộng. Trong năm 2012, đã có 10 nhiệm vụ khoa học và công nghệ cấp tỉnh được nghiệm thu. Các đề tài đã tập trung vào nghiên cứu lĩnh vực y tế chăm sóc sức khoẻ cộng đồng; nông nghiệp nông thôn; bảo vệ môi trường; truyền thống văn hóa; khoa học kỹ thuật và công nghệ, đặc biệt là ứng dụng tiến bộ kỹ thuật để sản xuất thử nghiệm các mặt hàng từ nguyên liệu Sâm Ngọc Linh.

Đã tập trung chấn chỉnh công tác quản lý, khai thác khoáng sản. Chương trình mục tiêu và Kế hoạch hành động quốc gia về ứng phó với biến đổi khí hậu tiếp tục được triển khai. Tăng cường kiểm tra, thanh tra và xử lý vi phạm các cơ sở gây ô nhiễm. Tiếp tục phân bổ nguồn vốn để xây dựng các khu xử lý rác thải. Công tác trồng và bảo vệ rừng được coi trọng, độ che phủ rừng trên 47%. Thúc đẩy tiến độ một số dự án ODA về môi trường ở những vùng quan trọng, trước hết là xử lý nước thải, rác thải khu vực đô thị Tam Kỳ, Hội An; khôi phục rừng và phát triển bền vững.

Ngân sách từ chương trình nước sạch vệ sinh môi trường nông thôn năm 2012 hơn 20 tỷ đồng, cùng với các chương trình mục tiêu khác 134, 135, định canh định cư; hỗ trợ từ các dự án ODA; chương trình từ các tổ chức phi chính phủ,  nguồn vốn từ ngân hàng chính sách, đã mở rộng phạm vi đầu tư các công trình về nước sạch tại các địa phương, nâng tỷ lệ dân nông thôn sử dụng nước hợp vệ sinh lên 84%.

6. Công tác cải cách hành chính, đào tạo cán bộ đạt những kết quả thiết thực, phòng chống tham nhũng được quan tâm chỉ đạo

Cải cách hành chính tiếp tục được triển khai đồng bộ cả về thể chế, tổ chức cán bộ, thủ tục hành chính và tài chính công. Công tác chỉ đạo triển khai kế hoạch cải cách hành chính giai đoạn 2011-2015 và năm 2012 của tỉnh trên các nội dung được chú trọng. Duy trì và triển khai thực hiện có hiệu quả cơ chế một cửa, một cửa liên thông; cải cách tổ chức bộ máy; xây dựng và nâng cao chất lượng đội ngũ cán bộ công chức; cải cách tài chính công; từng bước hiện đại hoá nền hành chính nhà nước. Tổ chức tốt thi tuyển công chức năm 2012. Bên cạnh đó, vẫn còn một số địa phương, đơn vị chưa xây dựng Kế hoạch cải cách hành chính giai đoạn 2011-2015 và kế hoạch cải cách hành chính năm 2012.

Thực hiện Đề án 500 của tỉnh, đã bồi dưỡng 108 học viên, đến nay đang làm khóa luận tốt nghiệp ra trường; đã khai giảng khoá II năm 2012 có 166 học viên;

Công tác phòng chống tham nhũng tiếp tục được quan tâm chỉ đạo gắn với việc thực hiện Nghị quyết Trung ương 4 (Khoá XI). 100% số người thuộc diện kê khai lần đầu đã kê khai tài sản, thu nhập; 20% số người kê khai có biến động bổ sung. Hơn 160 cán bộ công chức, viên chức được chuyển đổi vị trí công tác.

Toàn tỉnh đã triển khai 105 cuộc thanh tra về hành chính và triển khai 176 cuộc thanh tra chuyên ngành. Qua thanh tra đã kiến nghị thu hồi nộp ngân sách, xử phạt vi phạm hành chính và bán hàng tịch thu hơn 78 tỷ đồng, 15.829 ha đất. Kiến nghị xử lý 1.860 tập thể, cá nhân.

Công tác tiếp công dân tại các địa phương, đơn vị được duy trì thường xuyên. Các cơ quan quản lý nhà nước trên địa bàn đã tổ chức tiếp 9.193 lượt, tăng 5% so với năm trước; tiếp nhận 2.836 đơn khiếu nại, tố cáo; tăng 13% đơn khiếu nại và 44% đơn tố cáo. UBND tỉnh đã xử lý và giao cho các ngành chức năng thẩm tra, xác minh, tham mưu UBND tỉnh giải quyết theo qui định.

7. Quốc phòng - an ninh được đảm bảo, đối ngoại được tăng cường.

Thế trận quốc phòng toàn dân và an ninh nhân dân được tăng cường. Lực lượng vũ trang tiếp tục được xây dựng theo hướng cách mạng, chính quy, tinh nhuệ, từng bước hiện đại. Gắn kết chặt chẽ giữa phát triển kinh tế với củng cố quốc phòng, an ninh.

Duy trì nghiêm chế độ sẵn sàng chiến đấu, phối hợp thực hiện có hiệu quả Nghị định 77 của Chính phủ về “Phối hợp giữa Bộ Công an và Bộ Quốc phòng trong thực hiện nhiệm vụ bảo vệ an ninh quốc gia, giữ gìn trật tự an toàn xã hội và nhiệm vụ quốc phòng”; thực hiện chiến lược Quốc gia phòng chống giảm nhẹ thiên tai đến năm 2020 và kế hoạch xây dựng huy động, tiếp nhận lực lượng dự bị động viên cấp tỉnh, huyện; chỉ đạo chặt chẽ công tác phòng không nhân dân.

Hoàn thành tốt diễn tập thực nghiệm thi hành lệnh thiết quân luật theo Nghị định 32; hoàn thành tốt diễn tập khu vực phòng thủ tại 03 huyện năm 2012; diễn tập chỉ huy tham mưu và các diễn tập chiến đấu trị an cấp xã.

Đã tổ chức thành công Hội nghị thường niên giữa Quảng Nam – Sê Kông năm 2012. UBND tỉnh Quảng Nam và chính quyền tỉnh Sê Kông (Lào) phối hợp tổ chức nhiều hoạt động ý nghĩa nhân kỷ niệm 50 năm thiết lập quan hệ ngoại giao và 35 năm ngày ký hiệp ước hữu nghị Việt Nam – Lào.

Tăng cường tuyên truyền, giáo dục phòng chống tội phạm. Tai nạn giao thông giảm mạnh cả về số vụ tai nạn, số người chết và số người bị thương. Tính đến giữa tháng 11/2012, trên địa bàn toàn tỉnh đã xảy ra 246 vụ tai nạn giao thông đường bộ, làm chết 207 người, bị thương 218 người. So với cùng kỳ, giảm 99 vụ, giảm 43 người chết và giảm 74 người bị thương.

*       *

*

Bên cạnh những kết quả đạt được, vẫn còn những mặt hạn chế, nổi lên là:

Lãi suất tín dụng còn cao hơn so với hiệu quả sản xuất kinh doanh; nợ xấu gia tăng; doanh nghiệp khó tiếp cận và hấp thụ nguồn vốn vay; số lượng doanh nghiệp không hoạt động chiếm tỷ lệ cao so với đăng ký; hàng tồn kho lớn.

Thu nội địa thấp so với dự toán năm. Tỷ lệ huy động vốn đầu tư thấp, thiếu nguồn vốn cho các công trình trọng điểm.

Tăng trưởng kinh tế gặp nhiều khó khăn, nhất là sản xuất công nghiệp thuộc khu vực ngoài nhà nước giảm hơn 22% về tốc độ (Năm 2011/2010 tăng 33%; năm 2012/2011 tăng 10,6%;)

Trong nông nghiệp, chưa có giải pháp hữu hiệu để chuyển đổi cơ cấu cây trồng phù hợp đối với một số diện tích bị hạn hán, nhiễm mặn cục bộ; trong khi diện tích này đang sản xuất kém hiệu quả.

Chất lượng khám, chữa bệnh, quản lý y tế cơ sở chưa cao; chưa chú trọng công tác phòng bệnh, vẫn còn nhiều trường hợp mắc các loại dịch bệnh.

Hiệu quả dạy nghề còn thấp, nhất là dạy nghề cho lao động nông thôn. Chưa gắn giữa đào tạo với giải quyết việc làm, giữa đào tạo với kế hoạch phát triển kinh tế - xã hội của địa phương và nhu cầu sử dụng lao động của doanh nghiệp. Bên cạnh đó vẫn còn tình trạng lao động nông thôn đi học nghề như là một phong trào, chứ chưa có tính định hướng ngay từ đầu.

Việc triển khai thực hiện Chương trình mục tiêu quốc gia về xây dựng nông thôn mới tại 50 xã phấn đấu hoàn thành các tiêu chí giai đoạn 2011-2015 chưa đạt kế hoạch đề ra; tỷ lệ số xã đã hoàn thành công tác lập quy hoạch nông thôn mới còn thấp (15%).

Đời sống của một bộ phận nhân dân, nhất là vùng sâu, vùng xa và đồng bào dân tộc thiểu số, người nghèo, người cận nghèo, các đối tượng chính sách xã hội, người lao động có thu nhập thấp còn nhiều khó khăn. Do nguồn lực của tỉnh còn hạn chế nên việc huy động và bổ sung thêm các nguồn lực để thực hiện nâng mức hỗ trợ các chính sách an sinh xã hội, chương trình giảm nghèo, xây dựng nông thôn mới, tạo việc làm còn nhiều khó khăn.

Việc khai thác trái phép khoáng sản vẫn còn xảy ra ở một số địa phương. Ô nhiễm môi trường tại một số cơ sở sản xuất, cụm công nghiệp, lưu vực sông vẫn còn xảy ra.

Số người chết và bị thương do tại nạn giao thông đường bộ tuy có giảm nhiều so với năm trước nhưng còn ở mức cao; trật tự, an toàn xã hội một số nơi còn nhiều bức xúc, nhất là tình trạng tội phạm, tệ nạn xã hội.

Tình hình trên có nguyên nhân, khách quan là do tác động những khó khăn chung của nền kinh tế; nguyên nhân chủ quan là do những yếu kém nội tại của tỉnh với qui mô nền kinh tế nhỏ, doanh nghiệp không hoạt động so với đăng ký còn nhiều; cơ cấu đầu tư chưa thật hiệu quả từ nhiều năm, những hạn chế trong lãnh đạo, quản lý, nhất là trong quản lý đầu tư công, quản lý tài nguyên và trong chỉ đạo giải quyết các vấn đề xã hội bức xúc. Việc khắc phục những khuyết điểm, yếu kém đòi hỏi sự nỗ lực và quyết tâm cao của toàn tỉnh trong những năm tiếp theo.

Nhìn tổng quát, trong điều kiện phải đối mặt với nhiều khó khăn thách thức, công tác lãnh đạo điều hành thực hiện nhiệm vụ phát triển kinh tế - xã hội năm 2012 đã bám sát mục tiêu, nhiệm vụ đề ra trong các nghị quyết của Chính phủ, của Tỉnh ủy và HĐND tỉnh, đạt và vượt 10 trên 14 chỉ tiêu kế hoạch (giá trị xuất khẩu; giảm tỷ lệ hộ nghèo và hầu hết các số chỉ tiêu về xã hội và môi  trường, an ninh quốc phòng). Cùng với cả nước, lạm phát được kiềm chế, tăng trưởng kinh tế 6 tháng cuối năm cao hơn 6 tháng đầu  năm. Nông nghiệp tăng trưởng cao, khẳng định vai trò quan trọng trong ổn định và phát triển của tỉnh, đóng góp tích cực trong công tác giảm nghèo. Xuất khẩu tăng trưởng khá. An sinh xã hội được bảo đảm. Công tác đối ngoại và hội nhập quốc tế đạt những kết quả tích cực. Quốc phòng, an ninh được tăng cường. Trật tự an toàn xã hội có tiến bộ.

Tuy nhiên, còn 4 chỉ tiêu quan trọng chưa đạt kế hoạch (tăng trưởng kinh tế, trong đó có giá trị sản xuất công nghiệp xây dựng và dịch vụ; thu nội địa; huy động vốn đầu tư toàn xã hội và giải quyết việc làm). Khó khăn của nền kinh tế vẫn còn lớn. Các nhiệm vụ trung hạn nhằm tạo lập nền tảng cho ổn định và tăng trưởng bền vững mới ở giai đoạn khởi động. Để thực hiện thắng lợi Nghị Quyết Đại hội tỉnh Đảng bộ lần thứ XX đề ra, đòi hỏi cả hệ thống chính trị, các cơ quan quản lý nhà nước, cộng đồng doanh nghiệp phải nỗ lực thực hiện quyết liệt, đồng bộ các giải pháp tháo gỡ khó khăn, hỗ trợ sản xuất kinh doanh, thúc đẩy tăng trưởng, tích cực chuẩn bị các điều kiện cho tăng trưởng cao hơn trong năm 2013.

 

Phần thứ hai

ĐỊNH HƯỚNG PHÁT TRIỂN KINH TẾ -XÃ HỘI NĂM 2013

I. NHIỆM VỤ VÀ CÁC CHỈ TIÊU CHỦ YẾU:

1. Nhiệm vụ chủ yếu:

Trên cơ sở mục tiêu của Đại hội Đảng bộ tỉnh lần thứ XX đã đề ra, nhiệm vụ chủ yếu của năm 2013 là nâng cao chất lượng tăng trưởng, phấn đấu đạt tốc độ tăng trưởng cao hơn năm 2012, tạo đà để thực hiện thắng lợi các mục tiêu kế hoạch 5 năm 2011 - 2015; bảo đảm an sinh xã hội, cải thiện đời sống nhân dân; giữ vững ổn định chính trị, tăng cường củng cố quốc phòng, bảo đảm an ninh, trật tự, an toàn xã hội; nâng cao hiệu quả công tác đối ngoại và hội nhập quốc tế.

2. Các chỉ tiêu chủ yếu:

2.1. Các chỉ tiêu về kinh tế:

- Tổng sản phẩm trong tỉnh (GDP) tăng khoảng 11,5%. Theo đó giá trị sản xuất các ngành dự kiến như sau:

+ Năng lực tăng thêm của ngành nông lâm ngư theo xu hướng tốc độ tăng trong thời gian qua, năm 2013 duy trì diện tích gieo trồng và thâm canh cây hàng năm, tăng sản lượng lương thực, đồng thời có hơn 2.700 ha cao su đưa vào khai thác với khoảng 3.000 tấn mủ khô; tăng sản lượng nuôi trồng thuỷ sản, nên GTSX của ngành nông lâm ngư nghiệp tăng 4,5%.

+ GTSX công nghiệp tăng 18% (Năm 2012 có thêm một số nhà máy chính thức đi vào hoạt động như: Nhà máy soda; thuỷ điện sông Bung 5, 6, Đắc mi 4c với tổng công suất 3 nhà máy gần 100 MW, sản lượng hơn 400 triệu KWh; nhà máy chế biến thuỷ sản 2.400 tấn/năm, nhà máy sản xuất tụ điện 12 triệu sản phẩm/năm và nhà máy sản xuất bột mì 90.000 tấn/năm tại Khu công nghiệp ĐN-ĐN; nhà máy chế biến mủ cao su; các doanh nghiệp may mặc mới tại Phú Ninh; Giày da, dăm gỗ, may mặc tại Thăng Bình; Sedo vina và Hi – tech tại Duy Xuyên,...). Dự kiến một số sản phẩm tăng thêm so với năm 2012 như: Than sạch 27.000 tấn; thuỷ sản xuất khẩu 20.000 tấn, vàng khai thác 200 kg; hơn 30 triệu sản phẩm may mặc; hơn 8 triệu đôi giày thể thao; 6 triệu lít bia các loại; 14.000 tấn thép cán; 7.000 xe ô tô các loại; các sản phẩm tụ điện sodda, dăm gỗ,... với tổng giá trị sản xuất tăng thêm hơn 2.600 tỷ đồng.

+ GTSX các ngành dịch vụ xu hướng tăng bình quân các năm qua, phấn đấu năm 2013 tăng khoảng 16%.

- Thu nội địa 4.478 tỷ đồng, tăng hơn 22%.

- Tổng kim ngạch xuất khẩu tăng 20%.

- Tổng vốn đầu tư toàn xã hội chiếm khoảng 32% GDP (cả nước khoảng 30%)

2.2. Các chỉ tiêu về xã hội:

- Tạo việc làm mới 39.000 lao động

- Giảm tỷ lệ hộ nghèo xuống còn dưới 15%

- Giảm tỷ lệ trẻ em suy dinh dưỡng thể nhẹ cân còn dưới 14%

2.3. Các chỉ tiêu về môi trường:

- Tỷ lệ che phủ rừng: 48%

- Tỷ lệ dân số nông thôn được sử dụng nước hợp vệ sinh: 86%.

- Tỷ lệ dân số đô thị được sử dụng nước sạch: 82%.

- Xử lý 50% nước thải các khu công nghiệp đang hoạt động (06 khu)

- 75% Bệnh viện tuyến tỉnh và huyện có hệ thống xử lý nước thải, rác thải y tế.

II. DỰ KIẾN CÂN ĐỐI LỚN TRONG NĂM 2013:

1. Khả năng cân đối ngân sách.

Dự kiến tổng thu cân đối ngân sách trên địa bàn hơn 6.700 tỷ đồng, tăng 20% so với ước thực hiện năm 2012. Trong đó thu nội địa 4.478 tỷ đồng, tăng hơn 22%; thu xuất nhập khẩu 1.560 tỷ đồng, tăng 7,5% so với năm 2012.

Chi ngân sách địa phương khoảng 9.520 tỷ đồng, tăng 6,6% so với dự toán năm 2012 và bằng 70% so với ước thực hiện năm 2012.

2. Dự báo cân đối vốn đầu tư phát triển

Tổng vốn đầu tư toàn xã hội dự kiến tăng 8% so với năm ước thực hiện 2012, chiếm 32% GDP. Trong đó:

Ngân sách nhà nước tỉnh quản lý chiếm 25% (trong đó bao gồm ngân sách tập trung; chương trình hỗ trợ theo mục tiêu; chương trình mục tiêu quốc gia; khai thác quĩ đất, xổ số kiến thiết, ODA)

Dự kiến Trung ương đầu tư trên địa bàn chiếm khoảng 24%; Doanh nghiệp ngoài quốc doanh và nhân dân chiếm 20%; Đầu tư trực tiếp nước ngoài chiếm khoảng 8%; Nguồn vốn tín dụng chiếm khoảng 18%.

Nguồn vốn ngân sách nhà nước cân đối đầu năm khoảng 3.335 tỷ đồng, giảm 12% so với kế hoạch năm 2012, bao gồm các chương trình sau:

- Ngân sách tập trung: 402 tỷ đồng, bằng 100% kế hoạch 2012

- Khai thác quĩ đất: 478 tỷ đồng, giảm 4%

- Chương trình hỗ trợ theo mục tiêu: 783 tỷ đồng, giảm 15%. Nguồn vốn này năm 2013 có 5 chương trình Trung ương cắt, không bố trí vốn đó là: Chương trình 134, chương trình 167, các dự án khắc phục lũ lụt, dự án cứu hộ cứu nạn và đầu tư bệnh viện tuyến tỉnh. 

- Nguồn Xổ số kiến thiết: 40 tỷ đồng, bằng năm 2012

- Chương trình mục tiêu quốc gia: 407,9 tỷ đồng, giảm 4%

- Nguồn vốn nước ngoài (ODA): 164 tỷ đồng, giảm 4%

- Nguồn vốn Trái phiếu Chính phủ: 874,7 tỷ đồng, giảm 9%

III. CÁC NHÓM GIẢI PHÁP CHỦ YẾU

1. Thực hiện tốt các nhóm giải pháp ổn định phát triển kinh tế, góp phần thực hiện kiềm chế lạm phát.

Cùng với việc bố trí nguồn vốn từ ngân sách cho các công trình thanh toán khối lượng và chuyển tiếp, vì vậy cần thúc đẩy sớm giải ngân tất cả các nguồn vốn ngay từ đầu năm, từ ngân sách nhà nước, trái phiếu Chính phủ, nguồn vốn các chương trình mục tiêu quốc gia, chương trình hỗ trợ theo mục tiêu, các nguồn vốn ODA, FDI, NGO; cùng với việc thực hiện các biện pháp về hỗ trợ tín dụng cho doanh nghiệp. Coi đây là biện pháp hữu hiệu để tăng tổng cầu, giảm hàng tồn kho và kích thích tăng trưởng kinh tế.

Năm 2013, việc ổn định phát triển kinh tế được xác định là nền tảng quan trọng cho việc thực hiện nhiệm vụ trong cả giai đoạn 2011 – 2015, trọng tâm là cùng với cả nước góp phần kiểm soát lạm phát, bình ổn thị trường giá cả phấn đấu tiết kiệm chi ngân sách.

Thực hiện tốt nhiệm vụ thu, chi theo kế hoạch, triệt để tiết kiệm chi, nâng cao hiệu quả đầu tư công. Rà soát, sắp xếp lại danh mục đầu tư công, nâng cao hiệu quả sử dụng vốn. Kiểm soát chặt chẽ hiệu quả đầu tư. Bảo đảm nợ trong khả năng cân đối ngân sách toàn tỉnh và các cấp được phân cấp quản lý ngân sách.

Tăng cường quản lý nhà nước về giá. Ngăn chặn và kiên quyết xử lý các hành vi tăng giá bất hợp lý, đồng thời có cơ chế hỗ trợ cho người nghèo và các đối tượng chính sách. Tăng cường công tác thông tin tuyên truyền để hạn chế tối đa các tác động tăng giá do yếu tố tâm lý.

Đẩy mạnh xuất khẩu, tăng hàm lượng nội địa và giá trị gia tăng của sản phẩm; phát triển sản xuất thay thế có hiệu quả hàng nhập khẩu; kiểm soát chặt chẽ nhập khẩu các mặt hàng không khuyến khích.

2. Tăng cường quản lý các nguồn vốn đầu tư từ ngân sách nhà nước, tập trung nguồn vốn cho các dự án thanh toán khối lượng, các dự án hoặc hạng mục hoàn thành đưa vào sử dụng trong năm.

Thực hiện nhất quán Chỉ thị 1792 của Thủ tướng Chính phủ về tăng cường quản lý đầu tư từ ngân sách nhà nước và vốn trái phiếu Chính phủ. Bố trí đủ vốn để thu hồi các khoản vốn ứng trước. Đảm bảo vốn đối ứng các dự án ODA, kinh phí giải phóng mặt bằng.

Tập trung vốn cho các dự án hoàn thành trong năm 2012 trở về trước (ưu tiên các dự án hoàn thành đã quyết toán) thuộc nhiệm vụ đầu tư từ NSNN nhưng chưa được bố trí đủ vốn; các dự án dự kiến hoàn thành năm 2013; các dự án dự kiến hoàn thành năm 2014 - 2015 (theo tiến độ trong quyết định đầu tư, khả năng cân đối vốn và khả năng thực hiện 3 năm 2013 - 2015).

Chỉ bố trí nguồn vốn cho các dự án khởi công mới bức thiết nhất khi đã cân đối đảm bảo nguồn vốn cho các dự án hoàn thành dự án chuyển tiếp.

Các dự án mới phải có chủ trương đầu tư, phải nằm trong quy hoạch đã được duyệt, thuộc nhiệm vụ ngân sách nhà nước, có Quyết định phê duyệt dự án trước ngày 31/10/2012 được thẩm định nguồn vốn theo đúng quy định tại Chỉ thị 1792 của Thủ tướng Chính phủ (đối với các dự án thuộc nguồn vốn hỗ trợ có mục tiêu từ NSTW)

Các dự án khởi công mới phải đảm bảo nguồn vốn bố trí theo đúng qui định: 15% đối với dự án nhóm A; 20% đối với dự án nhóm B; 35% đối với dự án nhóm C so với tổng mức đầu tư dự án được phê duyệt; dự án nhóm C phải hoàn thành trong 3 năm, nhóm B phải hoàn thành trong 5 năm.

Đối với các dự án đang được đầu tư bằng vốn ngân sách nhà nước, vốn trái phiếu chính phủ nhưng không có nguồn để bố trí tiếp thì chuyển sang các hình thức đầu tư khác hoặc phải tạm đình chỉ. Những dự án được quyết định đầu tư mà không xác định rõ nguồn vốn, mức vốn ngân sách nhà nước, trái phiếu Chính phủ, làm cho dự án thi công kéo dài, gây lãng phí thì người ký quyết định đầu tư phải chịu trách nhiệm về những tổn thất do việc kéo dài gây ra.

Thực hiện có hiệu quả kế hoạch đầu tư trung hạn 2013 - 2015. Tập trung vốn ngân sách cho các dự án, công trình trọng điểm, quan trọng của tỉnh. Điều chỉnh cơ cấu đầu tư công theo hướng giảm dần tỷ trọng và nâng cao hiệu quả; kiên quyết khắc phục tình trạng đầu tư dàn trải, tăng cường huy động các nguồn vốn khác cho phát triển.

Đảm bảo nguồn vốn để thực hiện mục tiêu theo các Nghị quyết của HĐND tỉnh về: Giáo dục và đào tạo; việc làm và dạy nghề; thuỷ lợi hoá đất màu, kiên cố hoá kênh mương; phát triển giao thông nông thôn; quản lý bảo trì giao thông đường bộ...

Tăng cường thu hút, sử dụng hiệu quả các nguồn lực để đầu tư phát triển kết cấu hạ tầng đồng bộ đến năm 2020 theo Nghị Quyết 08 của Tỉnh ủy; trong đó ưu tiên cho danh mục các dự án có sức lan tỏa thúc đẩy phát triển.

3. Tháo gỡ khó khăn, tạo điều kiện cho các doanh nghiệp phát triển sản xuất, kinh doanh và mở rộng thị trường, đẩy mạnh cải cách hành chính.

Triển khai các chương trình khuyến mại, giới thiệu sản phẩm, hỗ trợ các doanh nghiệp tiêu thụ sản phẩm, kích thích tiêu dùng, phát triển thị trường, đưa hàng hoá về nông thôn. Xúc tiến thương mại, đẩy mạnh cuộc vận động "Người Việt Nam ưu tiên dùng hàng Việt Nam". Ngăn chặn có hiệu quả việc gian lận thương mại, nhập khẩu hàng hóa kém chất lượng.

Hỗ trợ doanh nghiệp vay vốn tín dụng với lãi suất hợp lý. Ưu tiên tín dụng cho sản xuất nông nghiệp, hàng xuất khẩu, công nghiệp hỗ trợ, doanh nghiệp vừa và nhỏ, doanh nghiệp ứng dụng công nghệ cao. Tháo gỡ vướng mắc về thủ tục hành chính cho doanh nghiệp.

Đẩy nhanh việc xử lý nợ xấu. Giải quyết xử lý nợ giữa ngân sách với các doanh nghiệp. Thực hiện các giải pháp phù hợp để giải quyết hàng tồn kho. Thúc đẩy sự hợp tác giữa các doanh nghiệp liên quan và ngân hàng.

Phát triển các ngành công nghiệp chế biến nông, lâm, thủy sản, công nghiệp hỗ trợ, công nghiệp có giá trị gia tăng cao. Tập trung tháo gỡ khó khăn, vướng mắc để bảo đảm tiến độ của các công trình công nghiệp quy mô lớn, nhất là trong Khu Kinh tế mở Chu Lai để thúc đẩy phát triển. Thực hiện các biện pháp đồng bộ để thu hút đầu tư. Hỗ trợ phát triển các doanh nghiệp, trong đó khuyến khích các doanh nghiệp sản xuất hàng xuất khẩu, cung cấp linh kiện, phụ kiện và sử dụng nhiều lao động.

Khuyến khích đầu tư phát triển các ngành dịch vụ có lợi thế và giá trị gia tăng cao như du lịch, viễn thông, hàng không, tài chính, ngân hàng… Tăng cường xúc tiến thương mại, mở rộng thị trường xuất khẩu.

Đẩy mạnh thực hiện Nghị quyết của Trung ương về nông nghiệp, nông dân, nông thôn. Huy động nguồn vốn nhà nước và thu hút nguồn vốn xã hội cho đầu tư phát triển nông nghiệp và xây dựng nông thôn mới. Thực hiện các giải pháp hỗ trợ thiết thực, hiệu quả, nhất là vốn tín dụng, ứng dụng khoa học công nghệ và tổ chức thị trường để phát triển mạnh sản xuất các sản phẩm nông nghiệp có lợi thế. Nhân rộng các mô hình chuyển đổi cơ cấu, sản xuất có hiệu quả cao. Kiểm soát vệ sinh an toàn thực phẩm trong toàn bộ chuỗi sản xuất - chế biến - tiêu thụ.

4. Bảo đảm an sinh xã hội, cải thiện đời sống của nhân dân, tập trung công tác giảm nghèo, giải quyết các vấn đề xã hội bức xúc.

Tổ chức thực hiện tốt Đề án phát triển kinh tế xã hội miền núi theo Nghị Quyết 55 của HĐND tỉnh.

Triển khai các biện pháp huy động, bổ sung vốn đầu tư phát triển kết cấu hạ tầng phát triển giao thông nông thôn, kiên cố hoá kênh mương phục vụ sản xuất nông nghiệp, hạ tầng thuỷ sản và các làng nghề nông thôn.

 Triển khai có hiệu quả 14 chương trình mục tiêu quốc gia đối với tỉnh, nhất là chương trình giảm nghèo bền vững; chương trình nước sạch vệ sinh môi trường nông thôn; đưa thông tin về sơ sở, đặc biệt là trên địa bàn các huyện nghèo, các xã đặc biệt khó khăn; hỗ trợ các hộ cận nghèo. Quan tâm trợ giúp xã hội đối với những người có hoàn cảnh đặc biệt khó khăn. Kịp thời cứu đói giáp hạt, cứu trợ nhân dân vùng bị thiên tai, bão lụt, mất mùa. Tranh thủ sự hỗ trợ của Trung ương để thực hiện thí điểm mô hình hỗ trợ xây dựng nhà tránh lũ vùng có nguy cơ ngập lụt.

Thực hiện đồng bộ, hiệu quả các cơ chế chính sách mới theo nghị quyết và Kết luận Hội nghị Trung ương 5 (Khóa XI) về chính sách xã hội, tiền lương, triển khai Bộ luật lao động, Pháp lệnh ưu đãi người có công… Quan tâm bảo đảm mức tối thiểu về các dịch vụ xã hội cơ bản cho người dân, đặc biệt là người nghèo, người có hoàn cảnh khó khăn và đồng bào dân tộc thiểu số.

Đẩy mạnh dạy nghề, tạo việc làm, nâng cao thu nhập. Thực hiện có hiệu quả chương trình dạy nghề gắn với tạo việc làm cho lao động nông thôn, người nghèo, và lao động vùng chuyển đổi mục đích sử dụng đất. Phấn đấu đưa khoảng 400 lao động đi làm việc ở nước ngoài.

Khuyến khích nông dân, người lao động tự do tham gia bảo hiểm xã hội tự nguyện. Thực hiện có hiệu quả bảo hiểm thất nghiệp. Kiểm tra, giám sát chặt chẽ việc thực hiện chế độ bảo hiểm xã hội bắt buộc. Giải quyết kịp thời các tranh chấp lao động. Tăng cường công tác thanh tra, kiểm tra an toàn lao động.

Tiếp tục quan tâm thực hiện tốt chính sách đối với người có công, chú trọng giải quyết những trường hợp hồ sơ còn tồn đọng. Hỗ trợ giải quyết cơ bản về nhà ở đối với hộ người có công. Bảo đảm quyền của trẻ em và bình đẳng giới.

5. Phát triển giáo dục và đào tạo, khoa học và công nghệ, chăm sóc sức khoẻ nhân dân, tăng cường bảo vệ và cải thiện môi trường.

Triển khai Chiến lược phát triển giáo dục và Kết luận của Hội nghị Trung ương 6 (khóa XI) về đổi mới căn bản, toàn diện giáo dục và đào tạo. Coi trọng giáo dục nhân cách, đạo đức, lối sống cho học sinh. Thực hiện có hiệu quả các cuộc vận động và các phong trào thi đua trong ngành giáo dục.

Tiếp tục chương trình kiên cố hóa trường lớp học và nhà công vụ giáo viên. Nâng cao chất lượng phổ cập giáo dục tiểu học và trung học cơ sở, gắn với phân luồng giáo dục, đào tạo nghề. Triển khai phổ cập giáo dục mầm non cho trẻ em 5 tuổi, củng cố và phát triển hệ thống các trường phổ thông dân tộc nội trú.

Phát triển và nâng cao chất lượng nguồn nhân lực. Tập trung triển khai thực hiện Chiến lược phát triển giáo dục và Quy hoạch phát triển nguồn nhân lực giai đoạn 2011 - 2020. Nâng cao chất lượng, hiệu quả dạy nghề theo nhu cầu thị trường lao động, gắn với doanh nghiệp và hội nhập quốc tế. Tuyển chọn, đào tạo nguồn cán bộ chủ chốt xã, phường, thị trấn; đào tạo sau đại học cho cán bộ công chức, viên chức giai đoạn 2011-2015 theo các đề án được phê duyệt. Tiếp tục thực hiện chính sách tín dụng dành cho học sinh, sinh viên.

Thực hiện phát triển sản phẩm chủ lực của tỉnh, chương trình nâng cao năng suất và chất lượng sản phẩm của doanh nghiệp. Nâng mức đóng góp của khoa học công nghệ vào tăng trưởng. Khuyến khích các doanh nghiệp đầu tư cho nghiên cứu khoa học, đổi mới công nghệ và đào tạo nguồn nhân lực.

Tiếp tục đầu tư Bệnh viện đa khoa và chuyên khoa tỉnh, các bệnh viện tuyến huyện. Nâng cấp, sửa chữa các trạm y tế xã.

Chú trọng nâng cao chất lượng chuyên môn, đáp ứng yêu cầu nhiệm vụ chăm sóc sức khỏe nhân dân gắn với việc học tập và làm theo tấm gương đạo đức Hồ Chí Minh.

Đẩy mạnh thực hiện Chương trình mục tiêu quốc gia về y tế. Củng cố và nâng cao hiệu quả mạng lưới y tế dự phòng, chủ động phòng chống dịch bệnh, không để dịch lớn xảy ra. Thực hiện có hiệu quả các chính sách bảo hiểm y tế, hỗ trợ mua bảo hiểm y tế cho học sinh, sinh viên, hộ cận nghèo, phấn đấu nâng tỷ lệ tham gia bảo hiểm y tế, tiến tới thực hiện bảo hiểm y tế toàn dân. Quản lý hiệu quả giá thuốc chữa bệnh. Tăng cường thanh tra, kiểm tra chất lượng, tiêu chuẩn vệ sinh an toàn thực phẩm.

Giải quyết tốt vấn đề môi trường ở các khu, cụm công nghiệp. Chú trọng xây dựng các nhà máy xử lý nước chung cho tất cả các khu công nghiệp đang triển khai. Triển khai có hiệu quả các chương trình, đề án lớn về môi trường, nhất là về nước sạch và vệ sinh môi trường; quản lý và sử dụng bền vững tài nguyên nước; bảo vệ và phát triển rừng, bảo tồn đa dạng sinh học; xử lý chất thải; ứng phó với biến đổi khí hậu.

Tăng cường kiểm tra, thanh tra và xử lý vi phạm, nhất là đối với hoạt động khai thác tài nguyên, khoáng sản trái phép. Xử lý nghiêm các vi phạm và các dự án không đáp ứng yêu cầu về môi trường.

6. Nâng cao hiệu lực, hiệu quả quản lý nhà nước

Thực hiện có hiệu quả chương trình cải cách hành chính, chú trọng cải cách thủ tục hành chính, tạo thuận lợi cho doanh nghiệp và nhân dân. Tập trung thực hiện tốt công tác bồi thường, giải phóng mặt bằng, tái định cư, giao đất, thu hồi đất cho mục đích phát triển, xử lý hài hoà lợi ích của người giao đất và người nhận đất để đầu tư sản xuất kinh doanh. Coi trọng phản biện xã hội, đề cao trách nhiệm giải trình của các cơ quan nhà nước.

Nâng cao chất lượng quy hoạch và quản lý phát triển theo quy hoạch, bảo đảm tính liên ngành, liên vùng. Rà soát, hoàn thiện cơ chế phân cấp quản lý giữa cấp tỉnh cấp huyện, gắn phân cấp với ng cường kiểm tra, giám sát và tính tự chịu trách nhiệm. Tăng cường công tác quản lý nhà nước về đô thị.

Đẩy mạnh công tác tuyên truyền, vận động và có chế tài cụ thể để nâng cao ý thức thực hành tiết kiệm, chống lãng phí.

7. Tăng cường quốc phòng, an ninh và nâng cao hiệu quả công tác đối ngoại.

Tăng cường công tác tuyên truyền giáo dục quốc phòng. Phát huy sức mạnh tổng hợp bảo vệ vững chắc chủ quyền lãnh thổ và an ninh quốc gia. Từng bước tăng cường tiềm lực quốc phòng, an ninh; củng cố thế trận quốc phòng toàn dân và thế trận an ninh nhân dân. Chủ động phát hiện, ngăn chặn mọi âm mưu chống phá, gây rối, gây bạo loạn của các thế lực thù địch. Thực hiện tốt công tác tuyển quân; huấn luyện; diễn tập phòng thủ; Thực hiện có hiệu quả Chương trình quốc gia về phòng, chống tội phạm. Tổ chức các đợt ra quân truy quét, trấn áp các loại tội phạm trên địa bàn.

Tiếp tục thực hiện chủ trương tăng dày cột mốc biên giới quốc gia, tăng cường mối quan hệ đoàn kết hữu nghị đặc biệt, xây dựng “biên giới mẫu mực” giữa hai tỉnh Quảng Nam – Sê Kông.

Quản lý chặt chẽ và đẩy nhanh tiến độ các dự án quản lý biên giới, các dự án thuộc chương trình Biển Đông - Hải đảo.

Đẩy mạnh hoạt động đối ngoại phục vụ công tác xúc tiến đầu tư, phát triển kinh tế, thương mại, văn hoá, du lịch, an ninh quốc phòng của tỉnh.

(Báo cáo 274/BC-UBND ngày 03/12/2012)

Thùy Dung

Lượt xem:  19,935

Ý kiến độc giả
{{NguoiGui}}   ()
gửi lúc {binding NgayGui, convert=dateConverter}
{{ HienThiNoiDung(NoiDung,TrangThai)}}
Chưa có bình luận nào của độc giả.
Tin đã đưa
.