Bác Hồ với những mốc son lịch sử cách mạng Việt Nam - Kỳ 2: Thắng lợi của Cách mạng Tháng Tám 1945
Thứ hai, ngày 18/05/2020 | 08:42 AM (GMT +7)
Chọn đúng thời điểm quyết định Tổng khởi nghĩa toàn quốc, làm nên thắng lợi Cách mạng Tháng Tám 1945 “long trời, lở đất”, là sự nhìn xa, trông rộng, tài dự báo tình hình, sẵn sàng chủ động, chớp thời cơ của Ðảng ta, đứng đầu là Chủ tịch Nguyễn Ái Quốc-Hồ Chí Minh vĩ đại.
 

 


Bác Hồ năm 1945. Ảnh sưu tầm.
 

Ngày 28.1.1941 (mùng 2 Tết Tân Tỵ), sau 30 năm bôn ba hoạt động ở nước ngoài tìm đường cứu nước, đồng chí Nguyễn Ái Quốc - Bác Hồ trở về Tổ quốc, trực tiếp lãnh đạo cách mạng Việt Nam; từ làng Nậm Quang, Bác đi qua biên giới Việt - Trung ở cột mốc số 108 thuộc xã Trường Hà, huyện Hà Quảng, tỉnh Cao Bằng. Cùng về với Bác có 5 đồng chí Phùng Chí Kiên, Thế An, Đặng Văn Cáp, Hoàng Văn Lộc và Lê Quảng Ba. Để giữ bí mật, ngày 8.2.1941, Bác chuyển vào làm việc tại hang Pác Bó thuộc xóm Pác Bó, xã Trường Hà, với bí danh Già Thu, cụ Thu Sơn. 

Từ ngày 10 đến 19.5.1941, giữa núi rừng Pác Bó, Bác Hồ triệu tập và chủ trì Hội nghị lần thứ 8 Trung ương Đảng, quyết định đường lối cứu nước, nhiệm vụ giải phóng dân tộc là bức thiết nhất của cách mạng Đông Dương và theo sáng kiến của Bác, ngày 19.5.1941, hội nghị quyết định thành lập Mặt trận dân tộc thống nhất mang tên Việt Nam độc lập Đồng minh hội (gọi tắt là Việt Minh). Đến ngày 6.6.1941, Bác viết thư "Kính cáo đồng bào" kêu gọi nhân dân hãy đứng lên, đoàn kết xung quanh Việt Minh, giải phóng đất nước mình. 
 
Tháng 9.1944, sau hơn một năm bị Quốc dân Đảng của Tưởng Giới Thạch bắt giam tại tỉnh Quảng Tây (từ 27.8.1942 đến 13.9.1943), Bác Hồ trở về Pác Bó. Tháng 10.1944, trước sự chuyển biến của tình hình thế giới có lợi cho cách mạng Việt Nam, Bác viết “Thư gởi đồng bào toàn quốc”, chỉ rõ thời cơ giải phóng dân tộc đang đến gần, bức thư ký tên Hồ Chí Minh, lần đầu tiên tên gọi Hồ Chí Minh được lan truyền trong cả nước. 
Ngày 9.3.1945, sự kiện Nhật hất cẳng Pháp độc chiếm Đông Dương, tạo cơ hội để dân tộc ta Tổng khởi nghĩa, lúc này lực lượng cách mạng Việt Nam đã phát triển mạnh mẽ trong cả nước, nhưng thời cơ thì chưa chín muồi. 
 
Tháng 5.1945, nhận thấy thời cơ tổng khởi nghĩa đã đến gần, Bác Hồ quyết định rời Cao Bằng về Tân Trào, tỉnh Tuyên Quang. Ðến tháng 7.1945, phát xít Ðức, Ý đã bại trận trên chiến trường châu Âu; ở châu Á, phát xít Nhật đang trên đường thất bại và sụp đổ; dù đang bị ốm giữa rừng Tân Trào, Bác Hồ vẫn chỉ thị cho đồng chí Võ Nguyên Giáp: “Lúc này thời cơ đã đến, dù hy sinh tới đâu, dù phải đốt cháy cả dãy Trường Sơn cũng phải kiên quyết giành cho được độc lập” và phải gấp rút triệu tập Đại hội đại biểu quốc dân để thành lập Chính phủ lâm thời cách mạng của nước Việt Nam.
 
Và ngày 13.8.1945, khi phát xít Nhật đầu hàng Ðồng minh, Bác Hồ và Trung ương Đảng khẳng định, tình thế cách mạng đã xuất hiện, thời cơ đã chín muồi, đây là cơ hội ngàn năm có một để giải phóng dân tộc giành chính quyền về tay nhân dân và quyết định họp Hội nghị toàn quốc của Đảng và Đại hội Quốc dân để quyết định phát động Tổng khởi nghĩa. 
 
Từ 13 đến 15.8.1945, Hội nghị toàn quốc của Đảng họp tại đình Hồng Thái, “Thủ đô Tân Trào” (huyện Sơn Dương, tỉnh Tuyên Quang), khẳng định: “Cơ hội rất tốt cho ta giành độc lập đã tới”; cử ra Ủy ban Khởi nghĩa toàn quốc, đề ra đường lối đối nội, đối ngoại trong tình hình mới; đề ra ba nguyên tắc bảo đảm tổng khởi nghĩa thắng lợi, đó là: tập trung, thống nhất, kịp thời. Lúc 23 giờ 13.8.1945, Ủy ban Khởi nghĩa ra Quân lệnh số 1 hiệu triệu toàn dân tổng khởi nghĩa; ngày 15.8.1945, hội nghị thông qua Nghị quyết Quyết định Tổng khởi nghĩa giành chính quyền trong cả nước từ tay phát xít Nhật và tay sai trước khi quân Đồng minh vào Đông Dương và ngay sáng 16.8.1945, Quyết định Tổng khởi nghĩa giành chính quyền trong cả nước, được ban hành. 
 
Tiếp đó, chiều 16.8.1945, Bác Hồ và Tổng bộ Việt Minh khai mạc Đại hội Quốc dân. Đại hội tiến hành trong khi lệnh Tổng khởi nghĩa vừa phát đi, cho nên phải họp khẩn trương, chớp nhoáng để các đại biểu có thể kịp về cùng địa phương lãnh đạo khởi nghĩa. Đại hội tán thành chủ trương của Đảng là lãnh đạo quần chúng nổi dậy, giành lấy chính quyền từ tay Nhật, đứng ở địa vị làm chủ nước mình tiếp đón quân Đồng minh vào giải giáp quân Nhật. Đại hội thông qua 10 chính sách, thành lập Ủy ban Giải phóng dân tộc Việt Nam (tức là Chính phủ lâm thời) do Bác Hồ làm Chủ tịch. Đại hội quy định Quốc kỳ là nền đỏ, giữa có ngôi sao vàng 5 cánh, Quốc ca là bài Tiến quân ca của nhạc sĩ Văn Cao. 
 
Ngày 17.8.1945, đại hội bế mạc trong không khí tổng khởi nghĩa sôi sục, thay mặt Chính phủ lâm thời, Bác Hồ đọc lời tuyên thệ: “Chúng tôi là những người được Quốc dân đại biểu bầu vào Ủy ban dân tộc giải phóng để lãnh đạo cuộc cách mạng của nhân dân. Trước lá cờ thiêng liêng của Tổ quốc, chúng tôi nguyện kiên quyết lãnh đạo nhân dân tiến lên, ra sức chiến đấu chống quân thù, giành lại độc lập cho Tổ quốc. Dù phải hy sinh đến giọt máu cuối cùng, không lùi bước”.

 


Đình Hồng Thái - Tân Trào, nơi diễn ra Hội  nghị toàn quốc của Đảng, quyết định
Tổng khởi nghĩa, 16.8.1945. Ảnh sưu tầm.
 

Ngay sau Đại hội, trên toàn cõi Việt Nam vang vọng lời hiệu triệu:“Giờ quyết định cho vận mệnh dân tộc đã đến! Toàn quốc đồng bào hãy đứng dậy đem sức ta mà tự giải phóng cho ta!” của Chủ tịch Hồ Chí Minh. Đáp lời kêu gọi, toàn thể dân tộc Việt Nam đồng loạt đứng lên làm cuộc cách mạng long trời, lỡ đất. Chỉ trong vòng 15 ngày cuối tháng 8.1945 (từ 14 - 28), cuộc tổng khởi nghĩa thần tốc, quyết thắng đã giành thắng lợi hoàn toàn, trọn vẹn; đưa dân tộc Việt Nam từ “dân quốc nô” trở thành người chủ đất nước, làm chủ vận mệnh của mình. 

Ngày 19.8.1945, cách mạng thành công ở Hà Nội. Trung ương Đảng cử đồng chí Lê Đức Thọ lên chiến khu Tân Trào đón Bác Hồ, Trung ương Đảng, Ủy ban giải phóng Dân tộc về Hà Nội. Khoảng 16 giờ ngày 23.9.1945, Bác Hồ về đến thôn Phú Xá, tối hôm đó Bác ngủ tại nhà ông Công Ngọc Kha ở thôn Phú Gia (cả hai thôn này nay thuộc phường Phú Thượng, quận Hồ Tây, Hà Nội). Đến chiều ngày 25.8.1945, đồng chí Trường Chinh đón Bác vào nội thành. Theo bố trí của Trung ương và thành ủy Hà Nội, Bác đến ở và làm việc tại căn phòng ở gác 2, số nhà 48 phố Hàng Ngang, quận Hoàn Kiếm, Hà Nội. Ngôi nhà 3 tầng này là của ông Trịnh Văn Bô - một thương gia yêu nước và là cơ sở tin cậy của Việt Minh. Tại đây, từ ngày 25.8 đến 31.8.1945, Bác Hồ đã dồn tâm trí để viết áng hùng văn có tầm lịch sử vô giá - “Tuyên ngôn Độc lập”. 
 
Và, lúc 14 giờ, ngày 2.9.1945, tại quảng trường Ba Đình, trước cuộc mit - ting của trên 50 vạn đồng bào Thủ đô và các vùng lân cận, Chủ tịch Hồ Chí Minh thay mặt Chính phủ cách mạng lâm thời đọc Tuyên ngôn độc lập, khai sinh Nước Việt Nam Dân chủ Cộng hòa, trịnh trọng tuyên bố với quốc dân và thế giới “Nước Việt Nam có quyền hưởng tự do và độc lập, và sự thật đã thành một nước tự do, độc lập. Toàn thể dân tộc Việt Nam quyết đem tất cả tinh thần và lực lượng, tính mạng và của cải để giữ vững quyền tự do, độc lập ấy” - Lời thề độc lập; lời thề của hồn thiêng sông núi; lời thề giữ nước thiêng liêng và tinh thần bất diệt của Cách mạng Tháng Tám năm 1945 đã vang vọng khắp non sông, đất nước, cho đến mãi muôn đời sau. 
 
Lời tuyên bố về quyền độc lập, tự do tất yếu của dân tộc Việt Nam đã không chỉ là đòn phủ đầu vào âm mưu tái chiếm của thực dân Pháp và ý đồ can thiệp của các nước đế quốc đối với Việt Nam mà còn khẳng định trước công luận, mọi hành vi xâm phạm độc lập, chủ quyền của nước Việt Nam độc lập là đều vi phạm luật pháp quốc tế, đi ngược với xu hướng phát triển của nhân loại tiến bộ.
 
Từ đây, dân tộc Việt Nam làm chủ đất nước Việt Nam; mở ra bước ngoặt vĩ đại trong lịch sử cách mạng, lịch sử dân tộc Việt Nam. Chính quyền về tay nhân dân, nước Việt Nam Dân chủ Cộng hòa ra đời, chấm dứt chế độ quân chủ phong kiến ở Việt Nam; kết thúc hơn 80 năm nhân dân ta dưới ách đô hộ của thực dân, phát xít. Nhân dân Việt Nam từ thân phận nô lệ trở thành người dân một nước độc lập, làm chủ vận mệnh của mình. Nước Việt Nam từ một nước thuộc địa nửa phong kiến trở thành một nước độc lập, tự do và dân chủ. 
 
-----------
* Tài liệu tham khảo: “Việt Nam 50 năm trong thế giới ngày nay”, NXB Hà Nội, 1995; "Đầu nguồn"- NXB Văn học, Hà Nội 1975; “Danh nhân Hồ Chí Minh”, tập 2, NXB Lao động - Hà Nội 2000; "Đồng chí Hồ Chí Minh" E.Cô- bê- lép, NXB Tiến Bộ, Mát-xcơ-va, 1985; "Hồ Chí Minh, tuyển tập", Nhà xuất bản Sự Thật- Hà Nội, 1960; "Hồ Chí Minh, tuyển tập" NXB Sự thật- Hà Nội, 1980; Hồ Chí Minh - Biên niên tiểu sử, tập 2, 1930-1945. Nxb Chính trị Quốc gia; Võ Nguyên Giáp - Những chặng đường lịch sử - NXB Chính trị quốc gia, Hà Nội, 1994; "Từ điển Nhân vật lịch sử Việt Nam", NXB Văn hóa, 1997; "Danh nhân Hồ Chí Minh", Tập 1,2,3, NXB Lao Động- Hà Nội, 2000; "Hồ Chí Minh, toàn tập"; website http://www.dangcongsan.vn và nhiều tư liệu khác.
-------------

Kỳ cuối: Đánh bại thực dân Pháp 1954 và đế quốc Mỹ 1975

 

Theo Quangnam.dcs.vn

Lượt xem:  233

Tin đã đưa
Xem theo ngày :