Ban hành khung giá rừng và giá rừng cho thuê

UBND tỉnh vừa ban hành Quyết định số 02/2022/QĐ-UBND quy định khung giá rừng và giá cho thuê rừng trên địa bàn tỉnh.

Quy định về khung giá rừng và giá cho thuê rừng là rừng tự nhiên, rừng trồng thuộc sở hữu toàn dân được quy hoạch chức năng đặc dụng, phòng hộ và sản xuất. Đối với rừng ngoài quy hoạch 3 loại rừng thì áp dụng như rừng sản xuất.

Khung giá rừng được xác định bằng phương pháp định giá chung đối với rừng đặc dụng, rừng phòng hộ và rừng sản xuất thuộc sở hữu toàn dân theo quy định tại Thông tư số 32/2018/TT-BNNPTNT ngày 16 tháng 11 năm 2018 của Bộ Nông nghiệp và Phát triển nông thôn quy định phương pháp định giá rừng; khung giá rừng và các quy định của pháp luật khác có liên quan.

Khung giá rừng đặc dụng, rừng phòng hộ, rừng sản xuất là rừng tự nhiên phân theo trạng thái rừng và đơn vị hành chính cấp huyện áp dụng trên địa bàn tỉnh Quảng Nam (Chi tiết tại Phụ lục I - Bảng 01 đến Bảng 16 đính kèm).

Khung giá rừng đặc dụng, rừng phòng hộ, rừng sản xuất là rừng trồng phân theo vùng sinh thái áp dụng trên địa bàn tỉnh Quảng Nam (Chi tiết tại Phụ lục II - Bảng 17 đính kèm).

Giá rừng tự nhiên khi thu hồi rừng, thanh lý rừng đối với rừng thuộc sở hữu toàn dân thì được tính bằng giá quyền sử dụng rừng; giá rừng trồng khi thu hồi rừng, thanh lý rừng đối với rừng thuộc sở hữu toàn dân thì được tính bằng tổng thu nhập dự kiến trong thời gian cho thuê (Chi tiết tại Phụ lục III - Bảng 18 đến Bảng 19 đính kèm). Trong trường hợp rừng tự nhiên, rừng trồng được tổ chức, hộ gia đình, cá nhân thuê của Nhà nước thì khung giá rừng tự nhiên, rừng trồng khi thu hồi rừng, thanh lý rừng được xác định bằng giá cho thuê rừng tính trong thời gian thuê còn lại.

Giá rừng tự nhiên khi góp vốn, cổ phần hóa doanh nghiệp nhà nước, thoái vốn Nhà nước được tính bằng giá cây đứng; giá rừng trồng khi góp vốn, cổ phần hóa doanh nghiệp nhà nước, thoái vốn Nhà nước được tính bằng giá rừng trồng (Chi tiết tại Phụ lục IV - Bảng 20 đến Bảng 35 và Phụ lục II - Bảng 17 đính kèm).

Khung giá rừng tự nhiên, rừng trồng để xác định giá trị bồi thường khi có hành vi vi phạm pháp luật gây thiệt hại đối với rừng; thiệt hại do thiên tai, cháy rừng và các thiệt hại khác đối với rừng; xác định giá trị rừng phục vụ giải quyết tranh chấp liên quan tới rừng được tính bằng tích giữa giá rừng tự nhiên hoặc rừng trồng với mức độ thiệt hại và hệ số điều chỉnh thiệt hại về môi trường, chức năng sinh thái của rừng (Chi tiết tại Phụ lục V - Bảng 36 đến Bảng 60 đính kèm).

Trường hợp khung giá rừng một số lô trạng thái rừng, mô hình trồng rừng trên địa bàn huyện tại thời điểm định giá không có thì áp dụng khung giá bình quân theo trạng thái rừng, mô hình trồng rừng của các huyện trong cùng một vùng sinh thái.

Đối với giá rừng cho thuê được làm căn cứ tính tiền thuê rừng khi các tổ chức, hộ gia đình, cá nhân có nhu cầu thuê rừng sản xuất để sản xuất lâm nghiệp; sản xuất lâm, nông, ngư nghiệp kết hợp; kinh doanh du lịch sinh thái, nghỉ dưỡng, giải trí.

Giá cho thuê rừng là giá khởi điểm được tính bằng tiền (đồng/ha) trong thời gian cho thuê rừng (Chi tiết tại Phụ lục VI - Bảng 61 đến Bảng 62 đính kèm).

Trường hợp có hai tổ chức, cá nhân trở lên cùng đề nghị được thuê rừng tại cùng một địa điểm thì giá thuê rừng sản xuất được quyết định thông qua đấu giá; giá khởi điểm được thực hiện theo quy định này và không thấp hơn 1% tổng doanh thu thực hiện trong năm của bên thuê rừng trong phạm vi diện tích thuê rừng.

Giá thuê xác định lần đầu trong hợp đồng được điều chỉnh năm (05) năm một lần nhưng không thấp hơn 1% tổng doanh thu thực hiện trong năm của bên thuê rừng trong phạm vi diện tích thuê rừng.

Khung giá rừng sẽ được xem xét điều chỉnh trong trường hợp có biến động tăng hoặc giảm trên 20% so với giá quy định hiện hành liên tục trong thời gian sáu (06) tháng trở lên.

File đính kèm: Quyết định, Phụ lục khung giá rừng.

Tin liên quan